Mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
TS. Nguyễn Quốc Việt
Trưởng phòng Chi cục thuế Thương mại điện tử - Cục Thuế
Email: nqviet@gdt.gov.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của kinh tế số, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tạo lập giá trị, tổ chức giao dịch và phân phối thu nhập trong nền kinh tế. Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022, kinh tế số được xác định là một trụ cột quan trọng trong Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của Việt Nam đã tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025, với giá trị tăng thêm năm 2025 ước tương đương khoảng 72,1 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, 2026), cho thấy đây đã là một bộ phận có quy mô đáng kể, tác động trực tiếp đến tăng trưởng, tiêu dùng và nguồn thu ngân sách nhà nước.
Kinh tế số không chỉ bao gồm thương mại điện tử mà còn bao trùm dịch vụ số xuyên biên giới, sáng tạo nội dung, quảng cáo trực tuyến, phần mềm, trò chơi thanh toán số, kinh tế chia sẻ, tài sản số, công nghệ số, hạ tầng số và các mô hình dựa trên dữ liệu. Giá trị kinh tế ở các mô hình này được tạo ra chủ yếu thông qua dữ liệu, nền tảng công nghệ, thuật toán và mạng lưới người dùng, thay vì dựa vào cơ sở vật chất hữu hình. Sự thay đổi này làm cho phương thức quản lý thuế dựa vào địa điểm kinh doanh, cơ sở thường trú và kê khai trực tiếp bộc lộ những giới hạn nhất định: nhà cung cấp ở nước ngoài có thể phát sinh doanh thu tại Việt Nam mà không cần hiện diện vật lý, cá nhân kinh doanh có thể bán hàng và nhận thu nhập từ nhiều nền tảng, trong khi dòng tiền có thể chảy qua nhiều kênh như ngân hàng, ví điện tử, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển hoặc nền tảng xuyên biên giới. Hệ quả là việc xác định người nộp thuế, doanh thu tính thuế và nơi phát sinh nghĩa vụ thuế trở nên phức tạp hơn nhiều so với mô hình kinh doanh truyền thống.
Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện chính sách và phương thức quản lý thuế đối với kinh tế số, tập trung vào nhà cung cấp ở nước ngoài, sàn thương mại điện tử, hộ và cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, với việc triển khai Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, đẩy mạnh kê khai điện tử và mở rộng trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay của nền tảng số. Tuy vậy, sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh số cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là quản lý tốt thương mại điện tử mà còn phải mở rộng cơ sở thuế theo hướng bao quát đầy đủ hơn các nguồn thu mới, dữ liệu giao dịch, dòng tiền và các chủ thể trung gian trong hệ sinh thái kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình đổi mới phương thức quản lý, trong đó dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm của nền tảng là các công cụ trọng tâm.
Trên cơ sở đó, bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, đánh giá thực trạng và các “nút thắt” trong quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, tăng cường quản lý dữ liệu, kiểm soát dòng tiền và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thuế.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ MỞ RỘNG CƠ SỞ THUẾ ĐỐI VỚI KINH TẾ SỐ
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia không chỉ xử lý thách thức thuế trong kinh tế số bằng cách bổ sung quy định thuế riêng lẻ, mà còn điều chỉnh phương thức quản lý theo hướng dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng trung gian, nơi tiêu dùng dịch vụ và nơi phát sinh doanh thu. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế doanh nghiệp số có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc nền tảng cho người dùng tại một quốc gia mà không cần hiện diện vật lý đáng kể, đòi hỏi hệ thống thuế phải có cơ chế ghi nhận doanh thu tại thị trường, xác định chủ thể có nghĩa vụ thuế và bảo đảm thông tin giao dịch được báo cáo.
Ở cấp độ đa phương, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)/G20 đã thúc đẩy giải pháp hai trụ cột nhằm xử lý các thách thức thuế phát sinh từ quá trình số hóa nền kinh tế. Trụ cột 1 hướng tới phân bổ lại một phần quyền đánh thuế cho các quốc gia thị trường, nơi người dùng và người tiêu dùng tạo ra doanh thu; Trụ cột 2 thiết lập mức thuế tối thiểu toàn cầu nhằm hạn chế tình trạng chuyển lợi nhuận sang các khu vực có thuế suất thấp. Tuyên bố ngày 08/10/2021 của OECD/G20 về giải pháp hai trụ cột đã được 136 khu vực tài phán thông qua, phản ánh mức độ đồng thuận quốc tế cao đối với việc điều chỉnh quyền đánh thuế trong kinh tế số (OECD, 2021). Cách tiếp cận này cho thấy quyền đánh thuế trong kinh tế số không thể chỉ dựa trên hiện diện vật lý, mà cần tính đến thị trường, người dùng và nơi phát sinh giá trị.
Trong lĩnh vực thuế gián thu, Liên minh châu Âu triển khai cơ chế One Stop Shop (OSS) và Import One Stop Shop (IOSS) nhằm đơn giản hóa đăng ký, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng đối với giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới. IOSS áp dụng cho hàng nhập khẩu có giá trị không quá 150 EUR; đồng thời, EU đã bãi bỏ cơ chế miễn VAT đối với hàng nhập khẩu giá trị nhỏ không quá 22 EUR (European Commission, 2021a). Kinh nghiệm này cho thấy cơ sở thuế có thể được mở rộng thông qua cổng kê khai tập trung, vừa giảm chi phí tuân thủ, vừa tăng khả năng kiểm soát giao dịch xuyên biên giới.
Nhiều quốc gia còn tăng trách nhiệm báo cáo của nền tảng số. Tại Liên minh châu Âu, quy định DAC7 yêu cầu nhà vận hành nền tảng báo cáo hằng năm cho cơ quan thuế của quốc gia thành viên thông tin định danh và thông tin tài chính của từng người bán cư trú tại EU, bao gồm tổng số tiền đã trả hoặc ghi có, đồng thời phải thực hiện thủ tục thẩm định để bảo đảm tính chính xác của thông tin (European Commission, 2021b). Cơ chế này biến nền tảng số từ trung gian kỹ thuật thành điểm thu thập thông tin thuế, giúp cơ quan thuế nhận diện người bán, đối chiếu doanh thu và kiểm soát rủi ro kê khai thiếu.
Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore áp dụng cơ chế đăng ký nhà cung cấp nước ngoài đối với dịch vụ từ xa và hàng hóa giá trị thấp cung cấp cho người tiêu dùng trong nước. Nhà cung cấp nước ngoài có doanh thu toàn cầu hằng năm từ 1 triệu SGD và doanh thu B2C cho khách hàng tại Singapore trên 100.000 SGD phải đăng ký, tính và kê khai GST; đồng thời, cơ quan thuế cho phép sử dụng các chỉ dấu như địa chỉ thanh toán, địa chỉ IP và thông tin thẻ tín dụng để xác định khách hàng thuộc Singapore và áp dụng cơ chế đăng ký đơn giản hóa, kê khai điện tử cho cả nhà vận hành chợ điện tử (IRAS, 2026). Trọng tâm quản lý vì vậy không chỉ là nơi đặt trụ sở mà còn là nơi tiêu dùng dịch vụ, ngưỡng doanh thu và khả năng xác định khách hàng thông qua dữ liệu giao dịch.
| Sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh số cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là quản lý tốt thương mại điện tử mà còn phải mở rộng cơ sở thuế theo hướng bao quát đầy đủ hơn các nguồn thu mới, dữ liệu giao dịch, dòng tiền và các chủ thể trung gian trong hệ sinh thái kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình đổi mới phương thức quản lý, trong đó dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm của nền tảng là các công cụ trọng tâm. |
Tại Hoa Kỳ, cơ quan thuế sử dụng cơ chế báo cáo thông tin từ tổ chức thanh toán để hỗ trợ quản lý thuế đối với kinh tế nền tảng và kinh tế việc làm tự do. Sở Thuế vụ Hoa Kỳ quy định tổ chức thanh toán phải nộp Mẫu 1099-K đối với các khoản thanh toán phát sinh từ giao dịch thẻ thanh toán và mạng lưới thanh toán bên thứ ba (IRS, 2026a). Đồng thời, IRS nhấn mạnh thu nhập từ kinh tế việc làm tự do phải được kê khai thuế, kể cả khi là công việc bán thời gian, tạm thời, không nhận được biểu mẫu thông tin, hoặc được thanh toán bằng tiền mặt, tài sản, hàng hóa hay tiền ảo (IRS, 2026b). Kinh nghiệm này cho thấy nghĩa vụ tự kê khai của cá nhân cần được bổ trợ bằng dữ liệu báo cáo từ tổ chức thanh toán và nền tảng trung gian.
Đối với phân khúc tài sản mã hóa, OECD đã xây dựng Khung báo cáo tài sản mã hóa (Crypto-Asset Reporting Framework - CARF) nhằm tăng cường minh bạch thông tin và trao đổi thông tin thuế giữa các quốc gia. Theo OECD (2024), một điều kiện quan trọng khi triển khai CARF là xác định đúng các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trách nhiệm thu thập và báo cáo thông tin cho cơ quan thuế. Khung này hướng tới việc báo cáo thông tin về người dùng, giao dịch, giá trị thị trường hợp lý và các chuyển dịch tài sản mã hóa. Kinh nghiệm này có ý nghĩa trong bối cảnh giao dịch tài sản mã hóa thường có yếu tố xuyên biên giới và có thể nằm ngoài hệ thống trung gian tài chính truyền thống.
Từ các kinh nghiệm trên có thể rút ra 2 xu hướng nổi bật. Một là, quyền đánh thuế trong kinh tế số ngày càng gắn với thị trường và nơi tiêu dùng dịch vụ, trong khi nền tảng số, tổ chức thanh toán và trung gian được giao vai trò lớn hơn trong cung cấp thông tin, khấu trừ và nộp thay. Hai là, quản lý thuế chuyển đổi mô hình quản lý truyền thống dựa chủ yếu trên hồ sơ kê khai, quản lý trực tiếp và thanh tra, kiểm tra thuế sang mô hình quản lý thuế hiện đại theo rủi ro, ứng dụng dữ liệu lớn, định danh số, kết nối và chia sẻ dữ liệu liên ngành cũng như tăng cường trao đổi thông tin quốc tế. Điểm chung là cơ quan thuế mở rộng đồng thời đối tượng chịu thuế, điểm thu thập dữ liệu, điểm kiểm soát dòng tiền và trách nhiệm của các trung gian trong hệ sinh thái số.
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KINH TẾ SỐ TẠI VIỆT NAM
So với xu hướng quốc tế, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong quản lý thuế đối với kinh tế số. Khung chính sách đã từng bước bổ sung các quy định đối với nhà cung cấp nước ngoài, thương mại điện tử, nền tảng số và hộ, cá nhân kinh doanh trên môi trường số.
Theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC, nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú nhưng có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải đăng ký, kê khai và nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế (Bộ Tài chính, 2021). Đối với hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, Nghị định số 117/2025/NĐ- CP có hiệu lực từ 01/7/2025 (Chính phủ, 2025) và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định phạm vi trách nhiệm và cách thức để chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác khấu trừ, kê khai và nộp thay số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (Chính phủ, 2026). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường quản lý đối với khu vực hộ, cá nhân kinh doanh số có số lượng lớn, giao dịch nhỏ lẻ nhưng tần suất cao.
Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2025), quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam năm 2024 đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Đến năm 2025, thị trường thương mại điện tử tăng trưởng khoảng 28%, doanh thu đạt khoảng 32 tỷ USD, số lượng người tiêu dùng trực tuyến ước tính đạt 65 triệu người. Kết quả quản lý thuế thời gian qua đồng thời ghi nhận quy mô và nguồn thu từ thương mại điện tử tăng nhanh tương ứng.
Theo Cục Thuế (2026b), số người nộp thuế có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử đã đăng ký kê khai, nộp thuế tại Việt Nam gồm khoảng 95.000 tổ chức, 1.277.000 hộ/cá nhân và 202 nhà cung cấp nước ngoài. Cũng theo Cục Thuế (2026b), số thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử năm 2025 đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm 2024; riêng 202 nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài với số thu đạt 13,9 nghìn tỷ đồng.
Bên cạnh đó, 68 tổ chức quản lý sàn trong nước và nước ngoài đã kê khai thay, nộp thuế thay với số thuế ước nộp gần 2,7 nghìn tỷ đồng năm 2025; hơn 95.000 tổ chức có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ước nộp 186,4 nghìn tỷ đồng; hơn 1,277 triệu hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử ước nộp gần 4,63 nghìn tỷ đồng (Cục Thuế, 2026b). Số thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử và kinh tế số cũng tăng nhanh qua các năm: 83 nghìn tỷ đồng năm 2022, 97 nghìn tỷ đồng năm 2023, 116 nghìn tỷ đồng năm 2024 và ước đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng năm 2025 (Cục Thuế, 2026b).
Các kết quả này phản ánh việc cơ quan thuế đã mở rộng được diện quản lý đối với các chủ thể có hoạt động trên nền tảng số, bao gồm cả nhà cung cấp nước ngoài và tổ chức quản lý sàn; đồng thời, việc khai thác dữ liệu từ nền tảng, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán và cổng thông tin điện tử đã bước đầu tạo cơ sở để nhận diện những nguồn thu trước đây khó quan sát.
Tuy nhiên, mức tăng nhanh của doanh thu và số thu cũng cho thấy quy mô khu vực kinh tế số rất lớn, trong khi công cụ quản lý vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Nếu đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam vẫn còn một số nút thắt thực tiễn cần tiếp tục xử lý. Trước hết, phạm vi quản lý còn tập trung nhiều vào thương mại điện tử và một số nền tảng có giao dịch rõ ràng, trong khi chưa bao quát được các khía cạnh khác của nền kinh tế số rộng hơn nhiều. Điển hình là các hoạt động như sáng tạo nội dung số, quảng cáo xuyên biên giới, livestream bán hàng, cung cấp dịch vụ tự do, trò chơi trực tuyến, phần mềm, tài sản số, tài chính phi tập trung và các nền tảng kết nối dịch vụ chưa được bao quát đầy đủ. Điều này tạo ra khoảng cách giữa tốc độ phát triển của mô hình kinh doanh số và khả năng nhận diện nguồn thu của cơ quan thuế.
Một nút thắt khác là dữ liệu phục vụ quản lý thuế còn phân tán. Trong một giao dịch số, thông tin có thể nằm ở sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ngân hàng, ví điện tử, cổng thanh toán, đơn vị vận chuyển, hệ thống hóa đơn điện tử và nhà cung cấp phần mềm quản trị bán hàng. Cục Thuế (2026b) chỉ ra rằng cơ sở dữ liệu thương mại điện tử hiện chủ yếu thu thập từ sàn, chưa bao quát các nền tảng khác và chưa kiểm soát được toàn bộ giao dịch, nhất là thanh toán và kinh doanh xuyên biên giới. Trong khi đó, dòng tiền trong kinh tế số ngày càng đa dạng, khi người bán có thể nhận tiền qua tài khoản cá nhân, chuyển khoản ngân hàng, ví điện tử, thu hộ khi giao hàng hoặc nền tảng thanh toán quốc tế. Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước được VnEconomy dẫn lại, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP; trong giai đoạn 2021-2025, giao dịch qua Internet tăng bình quân 60,6%/năm về số lượng và 31,92%/năm về giá trị, giao dịch qua điện thoại di động tăng lần lượt 73,32% và 52,55%, giao dịch qua mã QR tăng lần lượt 106,24% và 128,15% (Phan, 2026). Riêng trong quản lý thuế thương mại điện tử, từ dữ liệu của 17 đơn vị vận chuyển có dịch vụ thu hộ, cơ quan thuế bước đầu xác định hơn 30.000 gian hàng có giá trị COD giai đoạn 2022-2025 từ 1 tỷ đồng trở lên, với tổng giá trị COD hơn 352 nghìn tỷ đồng (Cục Thuế, 2026a). Các số liệu này cho thấy tiềm năng lớn của dữ liệu thanh toán, vận chuyển và dòng tiền trong nhận diện nguồn thu, song giá trị của chúng đối với quản lý thuế chỉ được phát huy khi hệ thống có khả năng kết nối theo thời gian thực, bảo mật thông tin và thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành phù hợp với quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Cùng với phân tán dữ liệu, việc định danh người nộp thuế trên môi trường số cũng là một vấn đề khó. Nhiều hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử không đăng ký kinh doanh, không có mã số thuế, không có địa điểm cố định; tên trên nền tảng có thể khác tên thật; một số trường hợp dùng thông tin người khác, tài khoản không chính chủ hoặc yêu cầu chuyển khoản không ghi nội dung (Cục Thuế, 2026b). Đây là rủi ro lớn đối với cơ chế quản lý dựa trên dữ liệu, bởi dữ liệu giao dịch chỉ có giá trị quản lý khi được gắn với định danh chính xác và được chuẩn hóa, phân tích thành cảnh báo rủi ro - điều đòi hỏi năng lực phân tích dữ liệu và quản lý rủi ro tiếp tục được nâng cao.
Cơ chế phối hợp quốc tế và trách nhiệm báo cáo của các chủ thể xuyên biên giới cũng cần được củng cố, bởi nhiều nguồn thu của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phát sinh từ quảng cáo số, nền tảng nội dung, phần mềm, trò chơi trực tuyến hoặc tài sản số có yếu tố nước ngoài; nếu thiếu cơ chế trao đổi thông tin, xác minh người nhận thu nhập và truy vết dòng tiền xuyên biên giới, cơ quan thuế sẽ khó xác định nghĩa vụ thuế thực tế. Mặc dù Việt Nam đã tham gia một số khuôn khổ hợp tác quốc tế về thuế, các cơ chế hiện hành vẫn chưa đủ hữu hiệu để bao quát đặc thù của kinh tế số, nơi doanh thu phát sinh ở một quốc gia nhưng được ghi nhận và đánh thuế ở quốc gia khác. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần chủ động tìm kiếm, tham gia và thậm chí khởi xướng các sáng kiến quốc tế cho phép trao đổi thông tin về doanh thu phát sinh tại từng địa bàn của các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia hoạt động thông qua nền tảng số, qua đó tạo cơ sở dữ liệu đủ tin cậy để xác định đúng nghĩa vụ thuế tại nơi giá trị thực sự được tạo ra.
Như vậy, các vấn đề chính đặt ra hiện nay không chỉ là hoàn thiện quy định pháp luật mà còn là xây dựng cơ chế dữ liệu liên thông để nhận diện đầy đủ chủ thể, giao dịch và dòng tiền; khi phạm vi kinh tế số mở rộng nhanh hơn phạm vi dữ liệu quản lý, cơ sở thuế có nguy cơ bị thu hẹp trên thực tế mặc dù chính sách thuế đã từng bước hoàn thiện.
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Để mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ quản lý từng người nộp thuế đơn lẻ sang quản lý hệ sinh thái giao dịch số, trong đó việc bổ sung đối tượng quản lý phải đi cùng với năng lực nhận diện dữ liệu giao dịch, dòng tiền, nền tảng trung gian và các nguồn thu mới.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bao quát đầy đủ các mô hình kinh doanh số. Bên cạnh sàn thương mại điện tử truyền thống, cần mở rộng phạm vi quản lý đối với nền tảng mạng xã hội, livestream, nội dung số, quảng cáo trực tuyến, phần mềm, trò chơi trực tuyến, lao động tự do, dịch vụ xuyên biên giới, tài sản mã hóa và các dạng tài sản số khác. Khung pháp lý cần làm rõ chủ thể có nghĩa vụ kê khai, căn cứ xác định doanh thu, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế, trách nhiệm cung cấp thông tin của nền tảng, cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế với ngân hàng, tổ chức thanh toán, đơn vị vận chuyển và cơ quan quản lý chuyên ngành.
Cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý, cần tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin, khấu trừ và nộp thay của nền tảng số. Kinh nghiệm DAC7 của Liên minh châu Âu cho thấy nền tảng là chủ thể có khả năng thu thập, xác minh và chuẩn hóa thông tin người bán tốt hơn cơ quan quản lý trong nhiều trường hợp (European Commission, 2021b). Vì vậy, Việt Nam cần chuẩn hóa nghĩa vụ báo cáo của nền tảng về thông tin định danh, mã số thuế, doanh thu, số lượng giao dịch, tài khoản nhận tiền, phương thức thanh toán, dữ liệu hoàn/hủy đơn hàng và thông tin liên quan đến người bán. Đối với nền tảng có chức năng thanh toán, cần thực hiện nghiêm cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thay theo quy định của Nghị định số 117/2025/NĐ-CP và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP (Chính phủ, 2025, 2026).
Một ưu tiên khác là xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý thuế kinh tế số theo hướng liên thông đa nguồn. Cơ quan thuế cần tăng cường kết nối dữ liệu từ sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ngân hàng, ví điện tử, cổng thanh toán, đơn vị vận chuyển, hệ thống hóa đơn điện tử, nhà cung cấp nước ngoài, doanh nghiệp cung cấp phần mềm quản trị bán hàng và các nền tảng hỗ trợ vận hành. Mục tiêu không chỉ là thu thập dữ liệu, mà quan trọng hơn là tạo khả năng đối chiếu tự động giữa doanh thu kê khai, dòng tiền nhận được, dữ liệu đơn hàng, dữ liệu vận chuyển và hóa đơn điện tử. Để các nguồn dữ liệu này thực sự liên thông được, cần ban hành chuẩn dữ liệu thống nhất cho các trường thông tin cốt lõi như mã định danh người bán, tài khoản nhận tiền, doanh thu, số lượng giao dịch và tình trạng đơn hàng; đồng thời xây dựng mã định danh duy nhất của người nộp thuế trên môi trường số để liên kết dữ liệu từ các nguồn khác nhau về cùng một chủ thể. Cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành cũng cần được quy định rõ về phạm vi, mục đích sử dụng, thời gian lưu trữ và trách nhiệm bảo mật, bảo đảm phù hợp với quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi các điều kiện này được bảo đảm, cơ quan thuế có thể nhận diện tốt hơn các nguồn thu chưa được kê khai.
Trên nền tảng dữ liệu được liên thông, cơ quan thuế cần áp dụng quản lý rủi ro đối với cá nhân và hộ kinh doanh có hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Thay vì kiểm tra dàn trải, cần xây dựng bộ tiêu chí rủi ro gồm: doanh thu tăng bất thường; số lượng đơn hàng lớn nhưng kê khai thấp; nhiều tài khoản nhận tiền; bán hàng trên nhiều nền tảng; phát sinh dòng tiền từ nền tảng nước ngoài; có giá trị COD lớn; sử dụng tài khoản không chính chủ; hoặc có dấu hiệu liên quan đến giao dịch tài sản số. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế có thể phân nhóm người nộp thuế để hỗ trợ nhóm rủi ro thấp tuân thủ tự nguyện, đồng thời tập trung thanh tra, kiểm tra đối với nhóm rủi ro cao. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh nhỏ, dữ liệu nền tảng có thể được sử dụng để gửi cảnh báo, nhắc kê khai, gợi ý doanh thu tham chiếu hoặc hỗ trợ xác định nghĩa vụ thuế; đối với trường hợp có dấu hiệu cố tình che giấu doanh thu, sử dụng tài khoản không chính chủ hoặc phân tán giao dịch để né ngưỡng quản lý, cần áp dụng biện pháp kiểm tra có trọng tâm.
Bên cạnh quản lý rủi ro ở trong nước, cần tăng cường kiểm soát dòng tiền, đặc biệt là dòng tiền xuyên biên giới. Cơ quan thuế cần tăng cường phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán và các cơ quan liên quan để nhận diện các khoản thanh toán từ Việt Nam cho nhà cung cấp dịch vụ số nước ngoài, nền tảng xuyên biên giới, quảng cáo số, trò chơi trực tuyến và dịch vụ phần mềm. Việc kiểm soát dòng tiền không nhằm cản trở giao dịch hợp pháp, mà nhằm hỗ trợ xác định doanh thu chịu thuế tại Việt Nam, phát hiện trường hợp chưa kê khai và hạn chế thất thu từ các hoạt động xuyên biên giới. Trong quá trình triển khai, cần tránh cách tiếp cận hành chính hóa quá mức; thay vào đó, nên tập trung vào các dòng thanh toán có rủi ro cao, các tài khoản nhận tiền có tần suất giao dịch bất thường, các khoản thanh toán định kỳ cho nền tảng nước ngoài và các giao dịch có giá trị lớn nhưng không tương ứng với kê khai thuế.
Đối với nhóm tài sản mã hóa và tài sản số, cần từng bước đưa vào khung quản lý thuế dựa trên định danh và báo cáo thông tin. Kinh nghiệm CARF của OECD cho thấy, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định sắc thuế hay thuế suất, mà là xác định được ai giao dịch, giao dịch ở đâu, giá trị bao nhiêu, khi nào phát sinh thu nhập và tổ chức nào có trách nhiệm báo cáo thông tin cho cơ quan thuế (OECD, 2024). Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu nghĩa vụ báo cáo của sàn giao dịch, nhà cung cấp ví, tổ chức lưu ký và trung gian tài sản số; đồng thời phối hợp liên ngành để kiểm soát giao dịch tài sản số không thông qua nền tảng được cấp phép.
Ngoài ra, cần nâng cao năng lực công nghệ, nhân sự và hợp tác quốc tế trong quản lý thuế kinh tế số. Cơ quan thuế cần đầu tư vào hạ tầng phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, phân tích mạng lưới giao dịch, công cụ định danh số và hệ thống cảnh báo rủi ro. Cùng với đó, cần đào tạo đội ngũ chuyên sâu về mô hình nền tảng, thanh toán số, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ tài chính và giao dịch xuyên biên giới. Đối với các nguồn thu có yếu tố nước ngoài, cần tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước, học hỏi kinh nghiệm triển khai cơ chế báo cáo nền tảng, quản lý nhà cung cấp nước ngoài, quản lý tài sản mã hóa và kiểm soát giao dịch xuyên biên giới.
KẾT LUẬN
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số không chỉ dựa vào việc ban hành thêm quy định thuế, mà chủ yếu phụ thuộc vào năng lực nhận diện giao dịch, kiểm soát dòng tiền, khai thác dữ liệu và tăng trách nhiệm của nền tảng trung gian. Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong quản lý thuế đối với thương mại điện tử, nhà cung cấp nước ngoài và hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Tuy nhiên, các nút thắt về dữ liệu phân tán, định danh người nộp thuế, giao dịch qua mạng xã hội, dòng tiền xuyên biên giới, tài sản số và năng lực phân tích rủi ro vẫn cần tiếp tục được xử lý. Trong thời gian tới, trọng tâm chính sách cần chuyển từ quản lý người nộp thuế đơn lẻ sang quản lý hệ sinh thái giao dịch số. Khi nền tảng số, tổ chức thanh toán, dữ liệu vận chuyển, hóa đơn điện tử, định danh số và hợp tác quốc tế được kết nối đồng bộ, cơ quan thuế sẽ có điều kiện tốt hơn để thu đúng, thu đủ, giảm thất thu ngân sách nhà nước và bảo đảm công bằng giữa các mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế, trong đó dữ liệu, công nghệ và phối hợp liên ngành trở thành nền tảng cho chính sách thuế công bằng và hiệu quả hơn.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Tài chính (2021). Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
- Chính phủ (2025). Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.
- Chính phủ (2026). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
- Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025.
- Cục Thuế (2026a). Báo cáo chuyên đề: Mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số.
- Cục Thuế (2026b). Thu hẹp khoảng trống tuân thủ pháp luật thuế thương mại điện tử.
- Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2025). Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024: Những bước tiến và thách thức.
- European Commission. (2021a). VAT e-Commerce.
- European Commission. (2021b). DAC7: Administrative cooperation and mutual assistance in taxation (Council Directive (EU) 2021/514).
- Inland Revenue Authority of Singapore [IRAS]. (2026). Overseas businesses supplying remote services and low-value goods to Singapore.
- Internal Revenue Service [IRS]. (2026a). About Form 1099-K, Payment Card and Third Party Network Transactions.
- Internal Revenue Service [IRS]. (2026b). Gig economy tax center.
- Organisation for Economic Co-operation and Development [OECD]. (2021). Statement on a two-pillar solution to address the tax challenges arising from the digitalisation of the economy.
- Organisation for Economic Co-operation and Development [OECD]. (2024). Delivering tax transparency to crypto-assets: A step-by-step guide to understanding and implementing the Crypto-Asset Reporting Framework. OECD.
- Phan, L. (2026). Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. VnEconomy.
- Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 6/2026 |
Tin tức khác
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Dùng 2 tài khoản tạo cung cầu giả, một cá nhân bị phạt 1,5 tỷ đồng
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Đưa quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam - Myanmar bước vào giai đoạn phát triển mới
Nhà trường phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Tổng thống Myanmar
Việt Nam đề xuất ba ưu tiên thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số tại APEC
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Từ đà hợp tác đến những bước phát triển mới với Nga và Pháp
UBND TP. Hồ Chí Minh đề xuất giữ nguyên 168 phường, xã, đặc khu
INFOGRAPHIC: Kinh tế việt nam 8 tháng 2026 - những con số nổi bật
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Tập trung kiểm soát các mặt hàng tác động đến chỉ số giá
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Seoul Chemical ký kết hợp tác mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Hàn Quốc
Hà Nội tăng tốc các động lực, giữ mục tiêu tăng trưởng 11%
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 17,25 tỷ USD; Vinhomes bắt tay SGC làm 2 dự án đường sắt
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, hướng tới mục tiêu 12,5 tỷ USD
Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh mở hướng kết nối nguồn lực quốc tế
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ đà tăng trưởng cuối năm











