aa

Mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

08:12 | 06/06/2026
Kinh tế số, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số đang tạo ra nhiều nguồn thu mới, đồng thời làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý thuế truyền thống. Với đặc trưng phi vật chất, xuyên biên giới và phụ thuộc vào dữ liệu, cơ sở thuế trong kinh tế số không chỉ gắn với chủ thể kinh doanh trực tiếp mà còn liên quan đến dữ liệu giao dịch, dòng tiền, nhà cung cấp nước ngoài và các nền tảng trung gian. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế, bài viết đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với thương mại điện tử, nhà cung cấp nước ngoài và nền tảng số tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra các nút thắt về phạm vi quản lý, phân tán dữ liệu, định danh người nộp thuế và kiểm soát dòng tiền xuyên biên giới. Từ đó, bài viết đề xuất một số nhóm khuyến nghị tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bao quát đầy đủ mô hình kinh doanh số, tăng trách nhiệm báo cáo và nộp thay của nền tảng, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông đa nguồn, áp dụng quản lý rủi ro đối với hộ và cá nhân kinh doanh, kiểm soát dòng tiền xuyên biên giới và đưa tài sản mã hóa vào khung quản lý thuế dựa trên định danh và báo cáo thông tin.

TS. Nguyễn Quốc Việt

Trưởng phòng Chi cục thuế Thương mại điện tử - Cục Thuế

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự phát triển của kinh tế số, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tạo lập giá trị, tổ chức giao dịch và phân phối thu nhập trong nền kinh tế. Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022, kinh tế số được xác định là một trụ cột quan trọng trong Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của Việt Nam đã tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025, với giá trị tăng thêm năm 2025 ước tương đương khoảng 72,1 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, 2026), cho thấy đây đã là một bộ phận có quy mô đáng kể, tác động trực tiếp đến tăng trưởng, tiêu dùng và nguồn thu ngân sách nhà nước.

Kinh tế số không chỉ bao gồm thương mại điện tử mà còn bao trùm dịch vụ số xuyên biên giới, sáng tạo nội dung, quảng cáo trực tuyến, phần mềm, trò chơi thanh toán số, kinh tế chia sẻ, tài sản số, công nghệ số, hạ tầng số và các mô hình dựa trên dữ liệu. Giá trị kinh tế ở các mô hình này được tạo ra chủ yếu thông qua dữ liệu, nền tảng công nghệ, thuật toán và mạng lưới người dùng, thay vì dựa vào cơ sở vật chất hữu hình. Sự thay đổi này làm cho phương thức quản lý thuế dựa vào địa điểm kinh doanh, cơ sở thường trú và kê khai trực tiếp bộc lộ những giới hạn nhất định: nhà cung cấp ở nước ngoài có thể phát sinh doanh thu tại Việt Nam mà không cần hiện diện vật lý, cá nhân kinh doanh có thể bán hàng và nhận thu nhập từ nhiều nền tảng, trong khi dòng tiền có thể chảy qua nhiều kênh như ngân hàng, ví điện tử, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển hoặc nền tảng xuyên biên giới. Hệ quả là việc xác định người nộp thuế, doanh thu tính thuế và nơi phát sinh nghĩa vụ thuế trở nên phức tạp hơn nhiều so với mô hình kinh doanh truyền thống.

Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện chính sách và phương thức quản lý thuế đối với kinh tế số, tập trung vào nhà cung cấp ở nước ngoài, sàn thương mại điện tử, hộ và cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, với việc triển khai Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, đẩy mạnh kê khai điện tử và mở rộng trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay của nền tảng số. Tuy vậy, sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh số cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là quản lý tốt thương mại điện tử mà còn phải mở rộng cơ sở thuế theo hướng bao quát đầy đủ hơn các nguồn thu mới, dữ liệu giao dịch, dòng tiền và các chủ thể trung gian trong hệ sinh thái kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình đổi mới phương thức quản lý, trong đó dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm của nền tảng là các công cụ trọng tâm.

Trên cơ sở đó, bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, đánh giá thực trạng và các “nút thắt” trong quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, tăng cường quản lý dữ liệu, kiểm soát dòng tiền và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thuế.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ MỞ RỘNG CƠ SỞ THUẾ ĐỐI VỚI KINH TẾ SỐ

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia không chỉ xử lý thách thức thuế trong kinh tế số bằng cách bổ sung quy định thuế riêng lẻ, mà còn điều chỉnh phương thức quản lý theo hướng dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng trung gian, nơi tiêu dùng dịch vụ và nơi phát sinh doanh thu. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế doanh nghiệp số có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc nền tảng cho người dùng tại một quốc gia mà không cần hiện diện vật lý đáng kể, đòi hỏi hệ thống thuế phải có cơ chế ghi nhận doanh thu tại thị trường, xác định chủ thể có nghĩa vụ thuế và bảo đảm thông tin giao dịch được báo cáo.

Ở cấp độ đa phương, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)/G20 đã thúc đẩy giải pháp hai trụ cột nhằm xử lý các thách thức thuế phát sinh từ quá trình số hóa nền kinh tế. Trụ cột 1 hướng tới phân bổ lại một phần quyền đánh thuế cho các quốc gia thị trường, nơi người dùng và người tiêu dùng tạo ra doanh thu; Trụ cột 2 thiết lập mức thuế tối thiểu toàn cầu nhằm hạn chế tình trạng chuyển lợi nhuận sang các khu vực có thuế suất thấp. Tuyên bố ngày 08/10/2021 của OECD/G20 về giải pháp hai trụ cột đã được 136 khu vực tài phán thông qua, phản ánh mức độ đồng thuận quốc tế cao đối với việc điều chỉnh quyền đánh thuế trong kinh tế số (OECD, 2021). Cách tiếp cận này cho thấy quyền đánh thuế trong kinh tế số không thể chỉ dựa trên hiện diện vật lý, mà cần tính đến thị trường, người dùng và nơi phát sinh giá trị.

Trong lĩnh vực thuế gián thu, Liên minh châu Âu triển khai cơ chế One Stop Shop (OSS) và Import One Stop Shop (IOSS) nhằm đơn giản hóa đăng ký, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng đối với giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới. IOSS áp dụng cho hàng nhập khẩu có giá trị không quá 150 EUR; đồng thời, EU đã bãi bỏ cơ chế miễn VAT đối với hàng nhập khẩu giá trị nhỏ không quá 22 EUR (European Commission, 2021a). Kinh nghiệm này cho thấy cơ sở thuế có thể được mở rộng thông qua cổng kê khai tập trung, vừa giảm chi phí tuân thủ, vừa tăng khả năng kiểm soát giao dịch xuyên biên giới.

Nhiều quốc gia còn tăng trách nhiệm báo cáo của nền tảng số. Tại Liên minh châu Âu, quy định DAC7 yêu cầu nhà vận hành nền tảng báo cáo hằng năm cho cơ quan thuế của quốc gia thành viên thông tin định danh và thông tin tài chính của từng người bán cư trú tại EU, bao gồm tổng số tiền đã trả hoặc ghi có, đồng thời phải thực hiện thủ tục thẩm định để bảo đảm tính chính xác của thông tin (European Commission, 2021b). Cơ chế này biến nền tảng số từ trung gian kỹ thuật thành điểm thu thập thông tin thuế, giúp cơ quan thuế nhận diện người bán, đối chiếu doanh thu và kiểm soát rủi ro kê khai thiếu.

Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore áp dụng cơ chế đăng ký nhà cung cấp nước ngoài đối với dịch vụ từ xa và hàng hóa giá trị thấp cung cấp cho người tiêu dùng trong nước. Nhà cung cấp nước ngoài có doanh thu toàn cầu hằng năm từ 1 triệu SGD và doanh thu B2C cho khách hàng tại Singapore trên 100.000 SGD phải đăng ký, tính và kê khai GST; đồng thời, cơ quan thuế cho phép sử dụng các chỉ dấu như địa chỉ thanh toán, địa chỉ IP và thông tin thẻ tín dụng để xác định khách hàng thuộc Singapore và áp dụng cơ chế đăng ký đơn giản hóa, kê khai điện tử cho cả nhà vận hành chợ điện tử (IRAS, 2026). Trọng tâm quản lý vì vậy không chỉ là nơi đặt trụ sở mà còn là nơi tiêu dùng dịch vụ, ngưỡng doanh thu và khả năng xác định khách hàng thông qua dữ liệu giao dịch.

Sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh số cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là quản lý tốt thương mại điện tử mà còn phải mở rộng cơ sở thuế theo hướng bao quát đầy đủ hơn các nguồn thu mới, dữ liệu giao dịch, dòng tiền và các chủ thể trung gian trong hệ sinh thái kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình đổi mới phương thức quản lý, trong đó dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm của nền tảng là các công cụ trọng tâm.

Tại Hoa Kỳ, cơ quan thuế sử dụng cơ chế báo cáo thông tin từ tổ chức thanh toán để hỗ trợ quản lý thuế đối với kinh tế nền tảng và kinh tế việc làm tự do. Sở Thuế vụ Hoa Kỳ quy định tổ chức thanh toán phải nộp Mẫu 1099-K đối với các khoản thanh toán phát sinh từ giao dịch thẻ thanh toán và mạng lưới thanh toán bên thứ ba (IRS, 2026a). Đồng thời, IRS nhấn mạnh thu nhập từ kinh tế việc làm tự do phải được kê khai thuế, kể cả khi là công việc bán thời gian, tạm thời, không nhận được biểu mẫu thông tin, hoặc được thanh toán bằng tiền mặt, tài sản, hàng hóa hay tiền ảo (IRS, 2026b). Kinh nghiệm này cho thấy nghĩa vụ tự kê khai của cá nhân cần được bổ trợ bằng dữ liệu báo cáo từ tổ chức thanh toán và nền tảng trung gian.

Đối với phân khúc tài sản mã hóa, OECD đã xây dựng Khung báo cáo tài sản mã hóa (Crypto-Asset Reporting Framework - CARF) nhằm tăng cường minh bạch thông tin và trao đổi thông tin thuế giữa các quốc gia. Theo OECD (2024), một điều kiện quan trọng khi triển khai CARF là xác định đúng các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trách nhiệm thu thập và báo cáo thông tin cho cơ quan thuế. Khung này hướng tới việc báo cáo thông tin về người dùng, giao dịch, giá trị thị trường hợp lý và các chuyển dịch tài sản mã hóa. Kinh nghiệm này có ý nghĩa trong bối cảnh giao dịch tài sản mã hóa thường có yếu tố xuyên biên giới và có thể nằm ngoài hệ thống trung gian tài chính truyền thống.

Từ các kinh nghiệm trên có thể rút ra 2 xu hướng nổi bật. Một là, quyền đánh thuế trong kinh tế số ngày càng gắn với thị trường và nơi tiêu dùng dịch vụ, trong khi nền tảng số, tổ chức thanh toán và trung gian được giao vai trò lớn hơn trong cung cấp thông tin, khấu trừ và nộp thay. Hai là, quản lý thuế chuyển đổi mô hình quản lý truyền thống dựa chủ yếu trên hồ sơ kê khai, quản lý trực tiếp và thanh tra, kiểm tra thuế sang mô hình quản lý thuế hiện đại theo rủi ro, ứng dụng dữ liệu lớn, định danh số, kết nối và chia sẻ dữ liệu liên ngành cũng như tăng cường trao đổi thông tin quốc tế. Điểm chung là cơ quan thuế mở rộng đồng thời đối tượng chịu thuế, điểm thu thập dữ liệu, điểm kiểm soát dòng tiền và trách nhiệm của các trung gian trong hệ sinh thái số.

QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KINH TẾ SỐ TẠI VIỆT NAM

So với xu hướng quốc tế, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong quản lý thuế đối với kinh tế số. Khung chính sách đã từng bước bổ sung các quy định đối với nhà cung cấp nước ngoài, thương mại điện tử, nền tảng số và hộ, cá nhân kinh doanh trên môi trường số.

Theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC, nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú nhưng có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải đăng ký, kê khai và nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế (Bộ Tài chính, 2021). Đối với hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, Nghị định số 117/2025/NĐ- CP có hiệu lực từ 01/7/2025 (Chính phủ, 2025) và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định phạm vi trách nhiệm và cách thức để chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác khấu trừ, kê khai và nộp thay số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (Chính phủ, 2026). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường quản lý đối với khu vực hộ, cá nhân kinh doanh số có số lượng lớn, giao dịch nhỏ lẻ nhưng tần suất cao.

Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2025), quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam năm 2024 đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Đến năm 2025, thị trường thương mại điện tử tăng trưởng khoảng 28%, doanh thu đạt khoảng 32 tỷ USD, số lượng người tiêu dùng trực tuyến ước tính đạt 65 triệu người. Kết quả quản lý thuế thời gian qua đồng thời ghi nhận quy mô và nguồn thu từ thương mại điện tử tăng nhanh tương ứng.

Theo Cục Thuế (2026b), số người nộp thuế có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử đã đăng ký kê khai, nộp thuế tại Việt Nam gồm khoảng 95.000 tổ chức, 1.277.000 hộ/cá nhân và 202 nhà cung cấp nước ngoài. Cũng theo Cục Thuế (2026b), số thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử năm 2025 đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm 2024; riêng 202 nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài với số thu đạt 13,9 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, 68 tổ chức quản lý sàn trong nước và nước ngoài đã kê khai thay, nộp thuế thay với số thuế ước nộp gần 2,7 nghìn tỷ đồng năm 2025; hơn 95.000 tổ chức có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ước nộp 186,4 nghìn tỷ đồng; hơn 1,277 triệu hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử ước nộp gần 4,63 nghìn tỷ đồng (Cục Thuế, 2026b). Số thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử và kinh tế số cũng tăng nhanh qua các năm: 83 nghìn tỷ đồng năm 2022, 97 nghìn tỷ đồng năm 2023, 116 nghìn tỷ đồng năm 2024 và ước đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng năm 2025 (Cục Thuế, 2026b).

Các kết quả này phản ánh việc cơ quan thuế đã mở rộng được diện quản lý đối với các chủ thể có hoạt động trên nền tảng số, bao gồm cả nhà cung cấp nước ngoài và tổ chức quản lý sàn; đồng thời, việc khai thác dữ liệu từ nền tảng, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán và cổng thông tin điện tử đã bước đầu tạo cơ sở để nhận diện những nguồn thu trước đây khó quan sát.

Tuy nhiên, mức tăng nhanh của doanh thu và số thu cũng cho thấy quy mô khu vực kinh tế số rất lớn, trong khi công cụ quản lý vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Nếu đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam vẫn còn một số nút thắt thực tiễn cần tiếp tục xử lý. Trước hết, phạm vi quản lý còn tập trung nhiều vào thương mại điện tử và một số nền tảng có giao dịch rõ ràng, trong khi chưa bao quát được các khía cạnh khác của nền kinh tế số rộng hơn nhiều. Điển hình là các hoạt động như sáng tạo nội dung số, quảng cáo xuyên biên giới, livestream bán hàng, cung cấp dịch vụ tự do, trò chơi trực tuyến, phần mềm, tài sản số, tài chính phi tập trung và các nền tảng kết nối dịch vụ chưa được bao quát đầy đủ. Điều này tạo ra khoảng cách giữa tốc độ phát triển của mô hình kinh doanh số và khả năng nhận diện nguồn thu của cơ quan thuế.

Một nút thắt khác là dữ liệu phục vụ quản lý thuế còn phân tán. Trong một giao dịch số, thông tin có thể nằm ở sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ngân hàng, ví điện tử, cổng thanh toán, đơn vị vận chuyển, hệ thống hóa đơn điện tử và nhà cung cấp phần mềm quản trị bán hàng. Cục Thuế (2026b) chỉ ra rằng cơ sở dữ liệu thương mại điện tử hiện chủ yếu thu thập từ sàn, chưa bao quát các nền tảng khác và chưa kiểm soát được toàn bộ giao dịch, nhất là thanh toán và kinh doanh xuyên biên giới. Trong khi đó, dòng tiền trong kinh tế số ngày càng đa dạng, khi người bán có thể nhận tiền qua tài khoản cá nhân, chuyển khoản ngân hàng, ví điện tử, thu hộ khi giao hàng hoặc nền tảng thanh toán quốc tế. Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước được VnEconomy dẫn lại, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP; trong giai đoạn 2021-2025, giao dịch qua Internet tăng bình quân 60,6%/năm về số lượng và 31,92%/năm về giá trị, giao dịch qua điện thoại di động tăng lần lượt 73,32% và 52,55%, giao dịch qua mã QR tăng lần lượt 106,24% và 128,15% (Phan, 2026). Riêng trong quản lý thuế thương mại điện tử, từ dữ liệu của 17 đơn vị vận chuyển có dịch vụ thu hộ, cơ quan thuế bước đầu xác định hơn 30.000 gian hàng có giá trị COD giai đoạn 2022-2025 từ 1 tỷ đồng trở lên, với tổng giá trị COD hơn 352 nghìn tỷ đồng (Cục Thuế, 2026a). Các số liệu này cho thấy tiềm năng lớn của dữ liệu thanh toán, vận chuyển và dòng tiền trong nhận diện nguồn thu, song giá trị của chúng đối với quản lý thuế chỉ được phát huy khi hệ thống có khả năng kết nối theo thời gian thực, bảo mật thông tin và thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành phù hợp với quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Cùng với phân tán dữ liệu, việc định danh người nộp thuế trên môi trường số cũng là một vấn đề khó. Nhiều hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử không đăng ký kinh doanh, không có mã số thuế, không có địa điểm cố định; tên trên nền tảng có thể khác tên thật; một số trường hợp dùng thông tin người khác, tài khoản không chính chủ hoặc yêu cầu chuyển khoản không ghi nội dung (Cục Thuế, 2026b). Đây là rủi ro lớn đối với cơ chế quản lý dựa trên dữ liệu, bởi dữ liệu giao dịch chỉ có giá trị quản lý khi được gắn với định danh chính xác và được chuẩn hóa, phân tích thành cảnh báo rủi ro - điều đòi hỏi năng lực phân tích dữ liệu và quản lý rủi ro tiếp tục được nâng cao.

Cơ chế phối hợp quốc tế và trách nhiệm báo cáo của các chủ thể xuyên biên giới cũng cần được củng cố, bởi nhiều nguồn thu của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phát sinh từ quảng cáo số, nền tảng nội dung, phần mềm, trò chơi trực tuyến hoặc tài sản số có yếu tố nước ngoài; nếu thiếu cơ chế trao đổi thông tin, xác minh người nhận thu nhập và truy vết dòng tiền xuyên biên giới, cơ quan thuế sẽ khó xác định nghĩa vụ thuế thực tế. Mặc dù Việt Nam đã tham gia một số khuôn khổ hợp tác quốc tế về thuế, các cơ chế hiện hành vẫn chưa đủ hữu hiệu để bao quát đặc thù của kinh tế số, nơi doanh thu phát sinh ở một quốc gia nhưng được ghi nhận và đánh thuế ở quốc gia khác. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần chủ động tìm kiếm, tham gia và thậm chí khởi xướng các sáng kiến quốc tế cho phép trao đổi thông tin về doanh thu phát sinh tại từng địa bàn của các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia hoạt động thông qua nền tảng số, qua đó tạo cơ sở dữ liệu đủ tin cậy để xác định đúng nghĩa vụ thuế tại nơi giá trị thực sự được tạo ra.

Như vậy, các vấn đề chính đặt ra hiện nay không chỉ là hoàn thiện quy định pháp luật mà còn là xây dựng cơ chế dữ liệu liên thông để nhận diện đầy đủ chủ thể, giao dịch và dòng tiền; khi phạm vi kinh tế số mở rộng nhanh hơn phạm vi dữ liệu quản lý, cơ sở thuế có nguy cơ bị thu hẹp trên thực tế mặc dù chính sách thuế đã từng bước hoàn thiện.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

Để mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ quản lý từng người nộp thuế đơn lẻ sang quản lý hệ sinh thái giao dịch số, trong đó việc bổ sung đối tượng quản lý phải đi cùng với năng lực nhận diện dữ liệu giao dịch, dòng tiền, nền tảng trung gian và các nguồn thu mới.

Trước hết, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bao quát đầy đủ các mô hình kinh doanh số. Bên cạnh sàn thương mại điện tử truyền thống, cần mở rộng phạm vi quản lý đối với nền tảng mạng xã hội, livestream, nội dung số, quảng cáo trực tuyến, phần mềm, trò chơi trực tuyến, lao động tự do, dịch vụ xuyên biên giới, tài sản mã hóa và các dạng tài sản số khác. Khung pháp lý cần làm rõ chủ thể có nghĩa vụ kê khai, căn cứ xác định doanh thu, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế, trách nhiệm cung cấp thông tin của nền tảng, cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế với ngân hàng, tổ chức thanh toán, đơn vị vận chuyển và cơ quan quản lý chuyên ngành.

Cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý, cần tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin, khấu trừ và nộp thay của nền tảng số. Kinh nghiệm DAC7 của Liên minh châu Âu cho thấy nền tảng là chủ thể có khả năng thu thập, xác minh và chuẩn hóa thông tin người bán tốt hơn cơ quan quản lý trong nhiều trường hợp (European Commission, 2021b). Vì vậy, Việt Nam cần chuẩn hóa nghĩa vụ báo cáo của nền tảng về thông tin định danh, mã số thuế, doanh thu, số lượng giao dịch, tài khoản nhận tiền, phương thức thanh toán, dữ liệu hoàn/hủy đơn hàng và thông tin liên quan đến người bán. Đối với nền tảng có chức năng thanh toán, cần thực hiện nghiêm cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thay theo quy định của Nghị định số 117/2025/NĐ-CP và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP (Chính phủ, 2025, 2026).

Một ưu tiên khác là xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý thuế kinh tế số theo hướng liên thông đa nguồn. Cơ quan thuế cần tăng cường kết nối dữ liệu từ sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ngân hàng, ví điện tử, cổng thanh toán, đơn vị vận chuyển, hệ thống hóa đơn điện tử, nhà cung cấp nước ngoài, doanh nghiệp cung cấp phần mềm quản trị bán hàng và các nền tảng hỗ trợ vận hành. Mục tiêu không chỉ là thu thập dữ liệu, mà quan trọng hơn là tạo khả năng đối chiếu tự động giữa doanh thu kê khai, dòng tiền nhận được, dữ liệu đơn hàng, dữ liệu vận chuyển và hóa đơn điện tử. Để các nguồn dữ liệu này thực sự liên thông được, cần ban hành chuẩn dữ liệu thống nhất cho các trường thông tin cốt lõi như mã định danh người bán, tài khoản nhận tiền, doanh thu, số lượng giao dịch và tình trạng đơn hàng; đồng thời xây dựng mã định danh duy nhất của người nộp thuế trên môi trường số để liên kết dữ liệu từ các nguồn khác nhau về cùng một chủ thể. Cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành cũng cần được quy định rõ về phạm vi, mục đích sử dụng, thời gian lưu trữ và trách nhiệm bảo mật, bảo đảm phù hợp với quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi các điều kiện này được bảo đảm, cơ quan thuế có thể nhận diện tốt hơn các nguồn thu chưa được kê khai.

Trên nền tảng dữ liệu được liên thông, cơ quan thuế cần áp dụng quản lý rủi ro đối với cá nhân và hộ kinh doanh có hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Thay vì kiểm tra dàn trải, cần xây dựng bộ tiêu chí rủi ro gồm: doanh thu tăng bất thường; số lượng đơn hàng lớn nhưng kê khai thấp; nhiều tài khoản nhận tiền; bán hàng trên nhiều nền tảng; phát sinh dòng tiền từ nền tảng nước ngoài; có giá trị COD lớn; sử dụng tài khoản không chính chủ; hoặc có dấu hiệu liên quan đến giao dịch tài sản số. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế có thể phân nhóm người nộp thuế để hỗ trợ nhóm rủi ro thấp tuân thủ tự nguyện, đồng thời tập trung thanh tra, kiểm tra đối với nhóm rủi ro cao. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh nhỏ, dữ liệu nền tảng có thể được sử dụng để gửi cảnh báo, nhắc kê khai, gợi ý doanh thu tham chiếu hoặc hỗ trợ xác định nghĩa vụ thuế; đối với trường hợp có dấu hiệu cố tình che giấu doanh thu, sử dụng tài khoản không chính chủ hoặc phân tán giao dịch để né ngưỡng quản lý, cần áp dụng biện pháp kiểm tra có trọng tâm.

Bên cạnh quản lý rủi ro ở trong nước, cần tăng cường kiểm soát dòng tiền, đặc biệt là dòng tiền xuyên biên giới. Cơ quan thuế cần tăng cường phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán và các cơ quan liên quan để nhận diện các khoản thanh toán từ Việt Nam cho nhà cung cấp dịch vụ số nước ngoài, nền tảng xuyên biên giới, quảng cáo số, trò chơi trực tuyến và dịch vụ phần mềm. Việc kiểm soát dòng tiền không nhằm cản trở giao dịch hợp pháp, mà nhằm hỗ trợ xác định doanh thu chịu thuế tại Việt Nam, phát hiện trường hợp chưa kê khai và hạn chế thất thu từ các hoạt động xuyên biên giới. Trong quá trình triển khai, cần tránh cách tiếp cận hành chính hóa quá mức; thay vào đó, nên tập trung vào các dòng thanh toán có rủi ro cao, các tài khoản nhận tiền có tần suất giao dịch bất thường, các khoản thanh toán định kỳ cho nền tảng nước ngoài và các giao dịch có giá trị lớn nhưng không tương ứng với kê khai thuế.

Đối với nhóm tài sản mã hóa và tài sản số, cần từng bước đưa vào khung quản lý thuế dựa trên định danh và báo cáo thông tin. Kinh nghiệm CARF của OECD cho thấy, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định sắc thuế hay thuế suất, mà là xác định được ai giao dịch, giao dịch ở đâu, giá trị bao nhiêu, khi nào phát sinh thu nhập và tổ chức nào có trách nhiệm báo cáo thông tin cho cơ quan thuế (OECD, 2024). Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu nghĩa vụ báo cáo của sàn giao dịch, nhà cung cấp ví, tổ chức lưu ký và trung gian tài sản số; đồng thời phối hợp liên ngành để kiểm soát giao dịch tài sản số không thông qua nền tảng được cấp phép.

Ngoài ra, cần nâng cao năng lực công nghệ, nhân sự và hợp tác quốc tế trong quản lý thuế kinh tế số. Cơ quan thuế cần đầu tư vào hạ tầng phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, phân tích mạng lưới giao dịch, công cụ định danh số và hệ thống cảnh báo rủi ro. Cùng với đó, cần đào tạo đội ngũ chuyên sâu về mô hình nền tảng, thanh toán số, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ tài chính và giao dịch xuyên biên giới. Đối với các nguồn thu có yếu tố nước ngoài, cần tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước, học hỏi kinh nghiệm triển khai cơ chế báo cáo nền tảng, quản lý nhà cung cấp nước ngoài, quản lý tài sản mã hóa và kiểm soát giao dịch xuyên biên giới.

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số không chỉ dựa vào việc ban hành thêm quy định thuế, mà chủ yếu phụ thuộc vào năng lực nhận diện giao dịch, kiểm soát dòng tiền, khai thác dữ liệu và tăng trách nhiệm của nền tảng trung gian. Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong quản lý thuế đối với thương mại điện tử, nhà cung cấp nước ngoài và hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Tuy nhiên, các nút thắt về dữ liệu phân tán, định danh người nộp thuế, giao dịch qua mạng xã hội, dòng tiền xuyên biên giới, tài sản số và năng lực phân tích rủi ro vẫn cần tiếp tục được xử lý. Trong thời gian tới, trọng tâm chính sách cần chuyển từ quản lý người nộp thuế đơn lẻ sang quản lý hệ sinh thái giao dịch số. Khi nền tảng số, tổ chức thanh toán, dữ liệu vận chuyển, hóa đơn điện tử, định danh số và hợp tác quốc tế được kết nối đồng bộ, cơ quan thuế sẽ có điều kiện tốt hơn để thu đúng, thu đủ, giảm thất thu ngân sách nhà nước và bảo đảm công bằng giữa các mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số. Mở rộng cơ sở thuế vì vậy cần được đặt trong tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế, trong đó dữ liệu, công nghệ và phối hợp liên ngành trở thành nền tảng cho chính sách thuế công bằng và hiệu quả hơn.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Tài chính (2021). Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
  2. Chính phủ (2025). Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.
  3. Chính phủ (2026). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
  4. Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025.
  5. Cục Thuế (2026a). Báo cáo chuyên đề: Mở rộng cơ sở thuế đối với kinh tế số, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số.
  6. Cục Thuế (2026b). Thu hẹp khoảng trống tuân thủ pháp luật thuế thương mại điện tử.
  7. Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2025). Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024: Những bước tiến và thách thức.
  8. European Commission. (2021a). VAT e-Commerce.
  9. European Commission. (2021b). DAC7: Administrative cooperation and mutual assistance in taxation (Council Directive (EU) 2021/514).
  10. Inland Revenue Authority of Singapore [IRAS]. (2026). Overseas businesses supplying remote services and low-value goods to Singapore.
  11. Internal Revenue Service [IRS]. (2026a). About Form 1099-K, Payment Card and Third Party Network Transactions.
  12. Internal Revenue Service [IRS]. (2026b). Gig economy tax center.
  13. Organisation for Economic Co-operation and Development [OECD]. (2021). Statement on a two-pillar solution to address the tax challenges arising from the digitalisation of the economy.
  14. Organisation for Economic Co-operation and Development [OECD]. (2024). Delivering tax transparency to crypto-assets: A step-by-step guide to understanding and implementing the Crypto-Asset Reporting Framework. OECD.
  15. Phan, L. (2026). Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. VnEconomy.
  16. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 6/2026

Tin tức khác

Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục về hỗ trợ lãi suất, cấp bù lãi suất

Từ ngày 20/11/2026, Bộ Tài chính bãi bỏ 5 thủ tục hành chính trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, liên quan đến hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất.
Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp nhà nước

Bộ Tài chính bãi bỏ 2 thủ tục hành chính về xử lý miễn lãi các khoản lãi chậm nộp của Quỹ Hỗ trợ sắp xếp phát triển doanh nghiệp tại Trung ương và địa phương.
Hơn 330 đề án của Bộ Tài chính được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Hơn 330 đề án của Bộ Tài chính được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Từ tháng 6/2021 đến hết tháng 6/2026, Bộ Tài chính đã trình 338 đề án thuộc phạm vi quản lý, trong đó 332 đề án được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phục vụ công tác hoạch định chính sách và quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp được vinh danh tại Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026

Bộ Tư pháp được vinh danh tại Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026

Giải thưởng Chính phủ số ASOCIO 2026 ghi nhận những kết quả chuyển đổi số của Bộ Tư pháp, nổi bật là xây dựng Nền tảng Pháp luật số, số hóa dữ liệu và phát triển các công cụ hỗ trợ xây dựng, thi hành pháp luật.
Phân bón giả bào mòn thương hiệu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp chân chính

Phân bón giả bào mòn thương hiệu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp chân chính

Phân bón giả, kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho nông dân, mà còn làm suy giảm uy tín thương hiệu, ảnh hưởng doanh thu và động lực đầu tư của doanh nghiệp sản xuất chân chính.
Tài chính vi mô: Không được sử dụng chênh lệch thu chi cho hoạt động ngoài chương trình

Tài chính vi mô: Không được sử dụng chênh lệch thu chi cho hoạt động ngoài chương trình

Chênh lệch thu chi tài chính hàng năm của dự án tài chính vi mô không được chia hoặc sử dụng cho các hoạt động không phải là hoạt động của chương trình.
Hé lộ cách thức trốn thuế tại hệ sinh thái NextTech của Shark Bình

Hé lộ cách thức trốn thuế tại hệ sinh thái NextTech của Shark Bình

Theo kết luận điều tra, ông Nguyễn Hòa Bình (Shark Bình) bị xác định có hành vi trốn thuế thông qua việc chỉ đạo nhân viên kê khai giảm doanh thu, bán hàng không xuất hóa đơn và để ngoài sổ sách kế toán.
Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA

Hoàn thiện khuôn khổ quy định đấu thầu theo các hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA

Nghị định số 374/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện đấu thầu theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA, với những nội dung đáng chú ý về phạm vi áp dụng, ngưỡng giá gói thầu, hồ sơ mời thầu và quy trình lựa chọn nhà thầu.
Xem thêm
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
video thu ngan sach gan 400 000 ty dong nganh hai quan tang toc so hoa cho chang nuoc rut 2026

VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026

Ngành Hải quan vừa ghi nhận những kết quả vô cùng ấn tượng trong 9 tháng năm 2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 888,03 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. ---------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video nganh thue ngan chan vi pham hoa don bang cong nghe phan tich du lieu lon

VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn

Hành vi của các doanh nghiệp "ma" xuất khống hóa đơn không chỉ làm thất thu nghiêm trọng ngân sách nhà nước mà còn đẩy nhiều doanh nghiệp làm ăn chân chính vào rủi ro pháp lý lớn khi vô tình sử dụng hóa đơn đầu vào bất hợp pháp. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast doanh nghiep chuyen phat gap rut nang cap he thong theo thong tu 142

PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142

Thưa quý vị, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 142/2026/TT-BTC, chính thức xác lập hạ tầng định danh, xác thực điện tử và chuẩn hóa dữ liệu cho toàn bộ hàng hóa qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. ---------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast quyet liet chong hang gia online tu xu ly tai khoan ao den niem phong kho thuc

PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực

Sự bùng nổ của thương mại điện tử đang kéo theo làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của hàng giả, hàng nhái và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lên môi trường số với thủ đoạn ngày càng ẩn danh, tinh vi. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Thống nhất phương pháp đo lường đóng góp của kinh tế số vào GDP

Thống nhất phương pháp đo lường đóng góp của kinh tế số vào GDP

Sáng 21/10, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính.
Việt Nam - Đan Mạch: Nâng tầm tin cậy, mở rộng hợp tác vì thịnh vượng

Việt Nam - Đan Mạch: Nâng tầm tin cậy, mở rộng hợp tác vì thịnh vượng

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Đan Mạch của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân từ ngày 19-21/10 đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hai nước.
Sẽ trình Hội nghị Trung ương 5 đề án về chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội

Sẽ trình Hội nghị Trung ương 5 đề án về chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, Chính phủ đang xây dựng đề án về chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội để báo cáo Bộ Chính trị, trình Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5.
Đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội: An toàn là điều kiện tiên quyết, hiệu quả là yêu cầu bắt buộc

Đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội: An toàn là điều kiện tiên quyết, hiệu quả là yêu cầu bắt buộc

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị hoàn thiện quy định về đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bảo toàn quỹ, hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm.
Mở rộng đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội hướng tới bảo toàn giá trị thực, tăng trưởng bền vững

Mở rộng đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội hướng tới bảo toàn giá trị thực, tăng trưởng bền vững

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội, đại biểu Quốc hội đề xuất mở rộng hình thức đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội gắn với yêu cầu bảo toàn giá trị thực, kiểm soát rủi ro và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch

Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen trao Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Xác định đối tượng đóng bảo hiểm y tế sau khi bỏ chức danh không chuyên trách cấp xã

Xác định đối tượng đóng bảo hiểm y tế sau khi bỏ chức danh không chuyên trách cấp xã

Đề nghị xác định cụ thể những chức danh còn thuộc diện tham gia bảo hiểm y tế, trách nhiệm đóng và cơ chế chuyển nhóm tham gia sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
Thủ tướng Chính phủ: Cắt khâu trung gian, đưa giá thuốc, thiết bị y tế về vùng giá hợp lý

Thủ tướng Chính phủ: Cắt khâu trung gian, đưa giá thuốc, thiết bị y tế về vùng giá hợp lý

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu cắt giảm các khâu trung gian, tăng cường công khai, minh bạch và kiểm soát chặt chẽ giá thuốc, trang thiết bị y tế.
Kiểm soát giá thuốc, tránh lợi dụng cơ chế công bố sau để “đẩy giá”

Kiểm soát giá thuốc, tránh lợi dụng cơ chế công bố sau để “đẩy giá”

Đại biểu Quốc hội đề nghị tăng cường kiểm soát để bảo đảm minh bạch, tránh nguy cơ lợi dụng cơ chế này để “đẩy giá” thuốc.
VinaCapital bắt tay quỹ hạ tầng Đan Mạch đầu tư logistics tại Việt Nam

VinaCapital bắt tay quỹ hạ tầng Đan Mạch đầu tư logistics tại Việt Nam

VinaCapital, Tập đoàn quản lý gần 4 tỷ USD tài sản, vừa ký biên bản ghi nhớ với A.P. Moller Capital để tìm cơ hội đầu tư hạ tầng, logistics tại Việt Nam.
Doanh nghiệp 40 quốc gia tham dự Vietstock, cơ hội vàng cho xuất khẩu của ngành chăn nuôi

Doanh nghiệp 40 quốc gia tham dự Vietstock, cơ hội vàng cho xuất khẩu của ngành chăn nuôi

Hàng nghìn doanh nghiệp mua hàng, khách tham quan và chuyên gia quốc tế từ 40 quốc gia, vùng lãnh thổ tham dự Triễn lãm Vietstock 2026.
Cầu đi bộ vượt sông Sài Gòn vốn gần 1.000 tỷ đồng dự kiến khai thác dịp Tết 2027

Cầu đi bộ vượt sông Sài Gòn vốn gần 1.000 tỷ đồng dự kiến khai thác dịp Tết 2027

Cầu đi bộ qua sông Sài Gòn, nối công viên Bến Bạch Đằng với khu đô thị Thủ Thiêm, đã hợp long rạng sáng 21/10, dự kiến khai thác dịp Tết Nguyên đán 2027.
Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở ra cơ hội cho hàng Việt tại các thị trường mới với lợi thế chuỗi cung ứng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Ngày 20/10, tại thủ đô Copenhagen, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Nhà vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X gặp gỡ doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch.
Thương mại Việt Nam - Singapore lập kỷ lục mới sau 9 tháng năm 2026

Thương mại Việt Nam - Singapore lập kỷ lục mới sau 9 tháng năm 2026

Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Singapore trong 9 tháng năm 2026 đạt gần 42,8 tỷ đô la Singapore (SGD), tăng 46,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Dự kiến công bố 12 dự án đầu tư, tổng vốn hơn 13 tỷ USD

Dự kiến công bố 12 dự án đầu tư, tổng vốn hơn 13 tỷ USD

Dự kiến có 12 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn hơn 13 tỷ USD sẽ được công bố, trao cho nhà đầu tư ngay sau phiên đối thoạt của Thủ tướng chính phủ Lê Minh Hưng tại AEF 2026.
Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung 4 luật về thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
IMF nâng dự báo tăng trưởng, đánh giá cao sức chống chịu của kinh tế Việt Nam

IMF nâng dự báo tăng trưởng, đánh giá cao sức chống chịu của kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều bất định, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá tích cực về khả năng chống chịu của kinh tế Việt Nam.