Hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ
PGS., TS.Lê Xuân Trường
Học viện Tài chính; Email: lexuantruong@hvtc.edu.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, internet, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang làm thay đổi sâu sắc mô hình quản trị nhà nước hiện đại. Trong bối cảnh đó, quản lý thuế không thể duy trì mô hình quản lý truyền thống mà đang chuyển dần sang mô hình quản trị dữ liệu, quản lý hành vi tuân thủ và quản lý rủi ro dựa trên nền tảng số.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã chuyển mạnh từ mô hình quản lý thuế truyền thống sang mô hình quản trị thuế hiện đại “Quản trị thuế trên cơ sở dữ liệu”. Trong đó, dữ liệu, phân tích dự báo, quản lý tuân thủ và nền tảng số trở thành công cụ cốt lõi của cơ quan thuế. OECD (2023) cho rằng, hiện đại hóa quản lý thuế không chỉ là tin học hóa thủ tục hành chính mà là quá trình tái cấu trúc mô hình quản trị thuế dựa trên dữ liệu, quản lý rủi ro và dịch vụ số.
Tại Việt Nam, quá trình hiện đại hóa quản lý thuế bắt đầu được triển khai từ khi Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 và được triển khai mạnh mẽ từ năm 2015 với việc mở rộng khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử, triển khai hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS), áp dụng hóa đơn điện tử, quản lý rủi ro và phát triển các nền tảng quản trị thuế số. Đặc biệt, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) số 108/2025/QH15 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng từ mô hình quản lý thuế hành chính truyền thống sang mô hình quản trị thuế số dựa trên dữ liệu, quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro.
Trong bối cảnh đó, cần thiết phải nghiên cứu toàn diện quá trình hiện đại hóa quản lý thuế tại Việt Nam giai đoạn những năm gần đây dưới góc độ chuyển đổi mô hình quản trị công, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý và tổ chức thực hiện quản lý thuế theo mô hình quản trị thuế số lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.
THỰC TRẠNG HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế (giai đoạn 2007-2013)
Từ giai đoạn quản lý thuế thủ công, bắt đầu từ năm 2007, cơ quan thuế đã từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế, cả về hỗ trợ các chức năng quản lý thuế của cơ quan thuế và hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục hành chính thuế. Cụ thể như sau:
Về ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện các chức năng quản lý thuế: Từ năm 2007, cơ quan thuế đã bắt đầu triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ các chức năng quản lý thuế và dần dần hoàn thiện các ứng dụng này, đó là: ứng dụng quản lý thuế hồ sơ (QHS), ứng dụng quản lý nợ thuế (QTN), ứng dụng thanh tra, kiểm tra thuế (TPR)… Đến năm 2013, đã có 16 ứng dụng công nghệ thông tin được phát triển phục vụ các nghiệp vụ quản lý thuế.
Về ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục hành chính thuế: Bắt đầu từ năm 2008, công nghệ mã vạch hai chiều in ra từ phần mềm hỗ trợ kê khai do cơ quan thuế cung cấp cho người nộp thuế được triển khai áp dụng rộng rãi. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế nhận tờ khai giấy nhưng nhập dữ liệu vào máy tính bằng thiết bị đọc mã vạch hai chiều. Hoạt động này giúp người nộp thuế kê khai thuế được thuận tiện, nhanh chóng và giảm bớt sai sót nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục nộp tờ khai giấy cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế không phải nhập dữ liệu thủ công nhưng vẫn phải thao tác thủ công để nhận dữ liệu mã vạch hai chiều.
Bắt đầu từ năm 2010, cơ quan thuế triển khai hệ thống khai thuế qua mạng internet thay thế cho hệ thống kê khai thuế mã vạch hai chiều và đến năm 2012 đã triển khai xong tại 50 tỉnh, thành phố. Năm 2013, đã triển khai kê khai thuế qua mạng tại tất cả các địa phương trong cả nước, đồng thời với việc triển khai thí điểm nộp thuế qua ngân hàng.
Năm 2011, cơ quan thuế bắt đầu triển khai hóa đơn điện tử trên cơ sở thực hiện Thông tư số 32/2011/ TT-BTC. Mặc dù vậy, trong những năm đầu số lượng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử rất ít. Phần lớn các doanh nghiệp vẫn sử dụng hóa đơn đặt in hoặc hóa đơn tự in.
Xây dựng nền tảng quản lý thuế điện tử (Giai đoạn 2014-2018)
Giai đoạn 2014-2018 là thời kỳ hình thành hạ tầng quản lý thuế điện tử tại Việt Nam. Các hoạt động trọng tâm của giai đoạn này như sau:
Từ năm 2014, bắt đầu nâng cao hệ thống kê khai thuế qua mạng thành hệ thống kê khai thuế điện tử và triển khai mở rộng thủ tục nộp thuế điện tử qua ngân hàng. Trong giai đoạn 2014-2018, cơ quan thuế đã từng bước mở rộng các sắc thuế áp dụng khai thuế điện tử và tăng tỷ lệ người nộp thuế kê khai thuế và nộp thuế điện tử, đặc biệt đối với người nộp thuế là doanh nghiệp. Báo cáo của Tổng cục Thuế cho biết, năm 2018, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Đã có 99,93% số doanh nghiệp đang hoạt động sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử. Cũng trong năm 2018, 50 ngân hàng thương mại đã hoàn thành kết nối nộp thuế điện tử với Tổng cục Thuế và 63 cục thuế để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử.
Theo Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2014-2018, tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thuế điện tử và nộp thuế điện tử trong giai đoạn 2014-2028 tăng đều qua các năm và đạt đến ngưỡng gần như tuyệt đối vào năm 2018. Trong giai đoạn này, cơ quan thuế cũng bắt đầu triển khai tích hợp các thủ tục hành chính thuế vào cổng dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ thủ tục hành chính thuế đáp ứng yêu cầu điện tử cấp độ 1 và cấp độ 2 trên cổng dịch vụ công quốc gia tăng rất nhanh trong 3 năm từ 2016 đến 2018, từ 10% năm 2016 lên 90,1% năm 2018. Thủ tục hoàn thuế điện tử bắt đầu được triển khai thí điểm từ năm 2015 và dần dần triển khai mở rộng những năm sau đó.
Từ năm 2014, cơ quan thuế bắt đầu triển khai thí điểm hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS). Hệ thống này thay thế cho toàn bộ 16 ứng dụng riêng biệt trước đây. Trong năm 2015, hệ thống TMS đã được triển khai ở tất cả các cơ quan thuế địa phương trong cả nước và dần dần khắc phục những nhược điểm kỹ thuật của hệ thống TMS. Cùng với việc triển khai ứng dụng TMS, cơ quan thuế đã bắt đầu tiến hành xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung phục vụ quản lý thuế, đặc biệt là phục vụ bước đầu cho ứng dụng quản lý thuế rủi ro vào quản lý thuế.
|
BẢNG: TỔNG HỢP KẾT QUẢ HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ THUẾ GIAI ĐOẠN 2022-2025 |
||||
|
Chỉ tiêu |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
Tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thuế điện tử |
99,5% |
99,7% |
99,9% |
99,99% |
|
Tỷ lệ doanh nghiệp nộp thuế điện tử |
98,93% |
99,3% |
99,2% |
99,99% |
|
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia hoàn thuế điện tử |
99,0% |
99,0% |
96,0% |
99,99% |
|
Thủ tục điện tử lệ phí trước bạ ô tô, xe máy |
403.000 giao dịch nộp LPTB điện tử |
Gần 1,1 triệu tờ khai điện tử |
Gần 2,4 triệu tờ khai điện tử và giao dịch nộp điện tử |
N |
|
Tỷ lệ hồ sơ lệ phí trước bạ điện tử |
Hà Nội: 28,2%; TP Hồ Chí Minh 26,1% |
24,4% |
48,7% |
N |
|
Số lượng lượt tải cài đặt ứng dụng eTax Mobile |
234.000 |
2,3 triệu |
3,8 triệu |
7 triệu (Riêng hộ kinh doanh: 1.017.268) |
|
Số nhà cung cấp nước ngoài đăng ký, kê khai, nộp thuế trên Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài |
42 |
74 |
120 |
202 |
Ghi chú: Ký hiệu “N” không có thông tin báo cáo.
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2022-2025
Về mô hình quản lý thuế, bằng việc triển khai nội dung quy định pháp luật tại Thông tư số 204/2015/ TT-BTC, cơ quan thuế các cấp đã triển khai rộng rãi mô hình quản lý thuế rủi ro vào hoạt động quản lý thuế. Theo đó, cơ quan thuế áp dụng quản lý rủi ro đối với các hoạt động sau: Quản lý đăng ký thuế; quản lý, kiểm tra khai thuế, nộp thuế; quản lý hoàn thuế; xác định, lựa chọn người nộp thuế để thực hiện đưa vào kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế theo quy định của pháp luật; quản lý nợ thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; phân loại người nộp thuế áp dụng các biện pháp quản lý trong việc tạo, in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế; thu thập, phân tích thông tin, xác định trọng điểm giám sát đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; cung cấp thông tin, dữ liệu, hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế.
Chuyển sang quản trị thuế số và quản lý rủi ro (Giai đoạn 2019-2021)
Nếu giai đoạn 2015-2018 chủ yếu tập trung vào xây dựng hạ tầng số thì giai đoạn 2019-2021 đánh dấu bước chuyển từ “số hóa” sang “quản trị số”. Trong giai đoạn này, ngành Thuế mở rộng áp dụng quản lý rủi ro; mở rộng triển khai hóa đơn điện tử; xây dựng hệ sinh thái eTax và phát triển quản trị thuế đối với thương mại điện tử. Cụ thể như sau:
Dấu ấn nổi bật đầu tiên của giai đoạn này là việc mở rộng các thủ tục hành chính thuế điện tử và mở rộng đối tượng áp dụng. Các kết quả chủ yếu về thủ tục hành chính thuế điện tử ở bảng sau:
Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2019 - 2021 cho thấy, quá trình số hóa quản lý thuế tại Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn xây dựng hạ tầng số sang giai đoạn quản trị thuế số dựa trên dữ liệu và nền tảng điện tử. Nếu trước năm 2019, trọng tâm chủ yếu là phổ cập khai và nộp thuế điện tử thì từ năm 2020 - 2021, quản lý thuế điện tử đã chuyển mạnh sang mô hình quản lý tích hợp với hoàn thuế điện tử và dữ liệu giao dịch điện tử. Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia khai, nộp và hoàn thuế điện tử đều đạt trên 95%, phản ánh mức độ số hóa rất cao của quản lý thuế tại Việt Nam trong giai đoạn này.
Những năm 2020 và 2021, đại dịch COVD-19 đã thúc đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong quản lý thuế trên các phương diện chủ yếu là mở rộng dịch vụ thuế điện tử, hỗ trợ trực tuyến cho người nộp thuế, quản lý từ xa trên cơ sở tập trung trọng tâm vào kiểm tra tại trụ sở cơ quan, xử lý hồ sơ thuế điện tử. Đặc biệt, trên cơ sở thực tế triển khai và yêu cầu của tình hình mới, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 31/2021/TT-BTC thay thế Thông tư số 204/2015/ TT-BTC về quản lý rủi ro trong quản lý thuế để đảm bảo mô hình quản lý rủi ro được toàn diện và đồng bộ hơn.
Hình thành quản trị thuế số tích hợp và hướng tới mô hình ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý thuế (Giai đoạn 2022-2025)
Giai đoạn 2022 - 2025 đánh dấu bước phát triển mới của quản trị thuế Việt Nam với việc triển khai hóa đơn điện tử toàn quốc và chuyển mạnh sang mô hình quản trị dữ liệu. Các cột mốc thời gian đánh dấu những hoạt động nổi bật giai đoạn này như sau: Triển khai hóa đơn điện tử toàn quốc (ngày 1/7/2022), tăng cường dữ liệu hóa và quản lý hoạt động kinh doanh thương mại điện tử (2023), xác định định hướng quản trị thuế dựa trên trí tuệ nhân tạo (2024), chuẩn bị nền tảng pháp lý để hiện đại hóa toàn bộ hoạt động quản lý thuế (2025). Bảng số liệu sau đây cho thấy các kết quả cụ thể của hiện đại hóa quản lý thuế trong giai đoạn này.
Bảng trên cho thấy, quản lý thuế tại Việt Nam đã bước sang giai đoạn quản trị thuế số tích hợp với mức độ dữ liệu hóa và tự động hóa rất cao. Nếu giai đoạn trước năm 2022 chủ yếu tập trung vào phổ cập dịch vụ thuế điện tử đối với doanh nghiệp thì từ năm 2022 trở đi, hệ sinh thái quản trị thuế số đã mở rộng mạnh sang hộ kinh doanh, cá nhân, thương mại điện tử và nền tảng số. Việc triển khai hóa đơn điện tử toàn quốc, triển khai ứng dụng eTax Mobile và phát triển Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài cho thấy, quản lý thuế Việt Nam đang chuyển từ mô hình quản lý thuế số sang mô hình quản trị số dựa trên cơ sở dữ liệu lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.
Những điểm mới chủ yếu của Luật Quản lý thuế (sửa đổi) 108/2025/QH15 liên quan đến hiện đại hóa quản lý thuế, lấy người nộp thuế làm trung tâm
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 với phần lớn các nội dung có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026, một số nội dung có hiệu lực từ 1/1/2026 và một số nội dung thực hiện theo lộ trình có hiệu lực từ năm 2027, đánh dấu bước phát triển mới của quản trị thuế số tại Việt Nam. Trên phương diện hiện đại hóa quản lý thuế, Luật này tạo cơ sở pháp lý cho mô hình quản trị thuế số gắn với quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro, dữ liệu điện tử tập trung, chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức. Cụ thể như sau:
Một là, chính thức hóa quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã dành riêng một chương (chương V) quy định về quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, ứng dụng công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số trong quản lý thuế. Theo đó, cơ quan quản lý thuế áp dụng quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ nhằm: (i) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tối ưu hóa nguồn lực của cơ quan quản lý thuế; (ii) Tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và khuyến khích người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật thuế; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế; (iii) Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi không tuân thủ pháp luật về thuế…
Hai là, hướng tới hệ thống quản lý thuế tự động dựa trên nền tảng quản trị dữ liệu tập trung. Theo đó, Luật này quy định hệ thống thông tin quản lý thuế tập trung, liên thông dữ liệu, xử lý tự động các nghiệp vụ quản lý thuế và thủ tục hành chính thuế trên cơ sở dữ liệu số toàn diện. Với quy định như vậy, Luật tạo cơ sở pháp lý cho ứng dụng AI vào quản lý thuế, quản lý dựa trên phân tích và dự báo từ dữ liệu và quản lý thuế tự động (Hỗ trợ quản lý thuế bằng phương thức điện tử, áp dụng công nghệ để hỗ trợ tối đa tự động hoá các quy trình nghiệp vụ…). Đặc biệt, Luật này quy định rõ lộ trình để đảm bảo thực hiện 100% giao dịch điện tử trong quản lý thuế.
Ba là, hoàn thiện quy định pháp lý về quản lý thuế đối với thương mại điện tử và kinh doanh dựa trên nền tảng số. Luật Quản lý thuế số 108/2025/ QH15 đã kế thừa quy định trước đó và bổ sung các quy định pháp lý rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về quản lý thuế dựa trên nền tảng số, cơ sở dữ liệu thương mại, dữ liệu thanh toán, tổ chức trung gian.
Bốn là, xóa bỏ thuế khoán và chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức. Kế thừa quy định xóa bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh tại Nghị quyết 198/2025/QH15, Luật Quản lý thuế số 108/2025/ QH15 quy định hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai và quy định về hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.
Năm là, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 bổ sung một nguyên tắc quản lý thuế quan trọng là “Lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ”. Đồng thời, các quy định về thủ tục hành chính thuế và ứng dụng điện tử, dữ liệu để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục hành chính thuế, giao dịch quản lý thuế điện tử, chuyển đổi số trong quản lý thuế… đều thể hiện ý tưởng lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.
MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐẶT RA TRONG TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ THUẾ
Thứ nhất, nền tảng hạ tầng công nghệ quản lý thuế và các ứng dụng công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu người dùng, cả dung lượng, chất lượng và tiện ích. Việc lưu trữ và xử lý khối lượng dữ liệu lớn (Big data), sẽ lớn hơn rất nhiều trong thời gian tới, việc hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được đòi hỏi hiện tại về dung lượng là một hạn chế của hiện tại và cũng là một thách thức lớn trong tương lai. Bằng chứng cụ thể là ứng dụng eTax Mobile và phân hệ dichvucong.gdt.gov. vn bị treo, nghẽn trong nhiều giờ của nhiều ngày trước và sau thời hạn hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế cho thấy rõ việc chưa đáp ứng về dung lượng của hệ thống công nghệ.
Thứ hai, việc đồng bộ hóa hệ thống cơ sở dữ liệu giữa các hệ thống ứng dụng khác nhau qua các thời kỳ của cơ quan thuế với hệ thống dữ liệu của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp… chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Do chưa đồng bộ cơ sở dữ liệu nên hệ quả là các thông tin gửi đến người nộp thuế thiếu chính xác. Gắn với yêu cầu phải giải trình của người nộp thuế khi có yêu cầu của cơ quan thuế dẫn đến việc phát sinh khối lượng công việc bất hợp lý cho người nộp thuế. Minh chứng rõ nét nhất là rất nhiều thông tin sai về người phụ thuộc, nghĩa vụ tài chính đất đai… trên ứng dụng eTax Mobile và các thông tin khác liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế trên hệ thống quản lý thuế tập trung TMS.
Thứ ba, rủi ro về dữ liệu. Việc mở rộng dữ liệu hóa quản lý thuế làm gia tăng rủi ro bảo mật và bảo toàn dữ liệu, nguy cơ lạm dụng dữ liệu của người nộp thuế, cơ quan thuế và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Thứ tư, thiếu nguồn nhân lực số chất lượng cao. Thực tiễn cho thấy một bộ phận không nhỏ công chức quản lý thuế không đáp ứng yêu cầu quản trị số, trong đó thiếu tư duy số và năng lực công nghệ thông tin hiện đại.
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ THUẾ GẮN VỚI ĐỊNH HƯỚNG LẤY NGƯỜI NỘP THUẾ LÀM TRUNG TÂM PHỤC VỤ
Nhằm tiếp tục thực hiện tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế gắn với định hướng lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, cần chú trọng các giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý đồng bộ cho hiện đại hóa quản lý thuế.
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 mới quy định những nội dung cơ bản nhất có tính chất khung pháp lý. Rất nhiều nội dung, trong đó, có những nội dung rất quan trọng về chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu, thủ tục hành chính thuế điện tử, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ… cần được quy định chi tiết bởi Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Nếu tinh thần chuyển đổi số, quản trị thuế số và lấy người nộp thuế làm trung tâm không được thể chế hóa vào các văn bản quy định chi tiết Luật thì các quy định của Luật không thực sự có ý nghĩa thực tiễn. Định hướng cơ bản khi hoàn thiện các văn bản này là việc lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ phải thể hiện ở nội dung thủ tục hành chính thuế theo hướng tiếp tục cắt giảm thủ tục, tận dụng tối đa cơ sở dữ liệu điện tử để quản lý thuế, giảm tối đa thủ tục giấy và yêu cầu làm việc trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế hoặc trụ sở doanh nghiệp, quy định cụ thể về giá trị pháp lý của công nghệ hỗ trợ người nộp thuế sử dụng hóa đơn điện tử và thủ tục hành chính thuế điện tử…
Hai là, hoàn thiện thể chế quản trị dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan và các văn bản quy định chi tiết Luật Quản lý thuế để hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo vệ dữ liệu, cơ chế giải trình thuật toán và trách nhiệm, quyền hạn, nguyên tắc… cho quản trị thuế số trên cơ sở dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Ba là, phát triển kết cấu hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngành Thuế.
Cần tăng cường đầu tư thích đáng nâng cấp kết cấu hạ tầng số cho quản lý thuế đáp ứng yêu cầu quản trị thuế số trên cơ sở Big Data, phát triển công nghệ quản trị thuế dựa trên phân tích và dự báo từ cơ sở dữ liệu. Đặc biệt, cần sớm có giải pháp công nghệ để liên thông và đồng bộ hệ thống dữ liệu trong hệ thống quản lý thuế tập trung TMS với các hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước và người nộp thuế.
Bốn là, phát triển mô hình quản trị thuế với người nộp thuế làm trung tâm.
Mô hình này cần được cụ thể hóa bằng cả việc hoàn thiện cơ sở pháp lý kết hợp với sự đầu tư phát triển công nghệ. Về công nghệ, cần đầu tư thích đáng cả về kết cấu hạ tầng số và các ứng dụng và phần mềm hóa đơn điện tử và hệ thống hỗ trợ kê khai thuế, nộp thuế theo hướng dễ sử dụng, tiện ích, an toàn và tin cậy. Trong mô hình này, nếu có sự mâu thuẫn về dữ liệu quản lý thuế hoặc có dấu hiệu không tuân thủ của người nộp thuế từ hệ thống cơ sở dữ liệu thì tuyệt đối không đẩy phần việc phải chứng minh không vi phạm cho người nộp thuế, mà trách nhiệm xác định có hay không có vi phạm và chứng minh hành vi vi phạm là của cơ quan thuế và cơ quan có thẩm quyền.
Năm là, cần đầu tư thích đáng để có đội ngũ công chức thuế số với tư duy quản trị số, năng lực số và kỹ năng số.
Theo đó, cần có cơ chế đãi ngộ hấp dẫn hơn để thu hút nhân tài vào làm việc ở những bộ phận đòi hỏi cao về công nghệ số, có cơ chế tuyển dụng thích hợp; có hệ thống KPI để đánh giá, sử dụng cán bộ, chi trả tiền lương và thu nhập tạo động lực lao động và cống hiến cho công chức thuế. Đồng thời, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên công chức thuế đáp ứng yêu cầu của hiện đại hóa quản lý thuế.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 32/2011/TT-BTC hướng dẫn khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Bộ Tài chính (2015). Thông tư số 204/2015/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
- Bộ Tài chính (2021). Thông tư số 31/2021/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
- Cục Thuế (2026). Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2025.
- Cục Thuế (2026). Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2022-2025.
- Lê Xuân Trường và cộng sự (2023). Cải cách thủ tục hành chính thuế ở Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế số (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện). Học viện Tài chính.
- Lê Xuân Trường và cộng sự (2025). Giải pháp phòng ngừa và chống gian lận hóa đơn điện tử ở Việt Nam (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện). Học viện Tài chính.
- OECD (2023). Tax Administration Digitalisation and Digital Transformation Initiatives. OECD Publishing.
- Quốc hội (2006). Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11.
- Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15.
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2025). Luật Quản lý thuế (sửa đổi) số 108/2025/QH15.
- Tổng cục Thuế (2025). Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2014-2018.
- Tổng cục Thuế (2025). Báo cáo tổng kết ngành Thuế giai đoạn 2019-2021.
- Tổng cục Thuế (2008-2024). Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm từ 2007 đến 2024.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 6/2026 |
Tin tức khác
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Dùng 2 tài khoản tạo cung cầu giả, một cá nhân bị phạt 1,5 tỷ đồng
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán các khoản vay, trả nợ của Chính phủ
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Đưa quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam - Myanmar bước vào giai đoạn phát triển mới
Nhà trường phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Tổng thống Myanmar
Việt Nam đề xuất ba ưu tiên thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số tại APEC
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Từ đà hợp tác đến những bước phát triển mới với Nga và Pháp
UBND TP. Hồ Chí Minh đề xuất giữ nguyên 168 phường, xã, đặc khu
INFOGRAPHIC: Kinh tế việt nam 8 tháng 2026 - những con số nổi bật
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Tập trung kiểm soát các mặt hàng tác động đến chỉ số giá
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và Seoul Chemical ký kết hợp tác mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Hàn Quốc
Hà Nội tăng tốc các động lực, giữ mục tiêu tăng trưởng 11%
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 17,25 tỷ USD; Vinhomes bắt tay SGC làm 2 dự án đường sắt
Mở rộng dư địa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc
Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, hướng tới mục tiêu 12,5 tỷ USD
Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh mở hướng kết nối nguồn lực quốc tế
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ đà tăng trưởng cuối năm











