Định vị Trung tâm Tài chính tại Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính về lợi thế và giải pháp để Việt Nam khẳng định được vị thế trong chuỗi tài chính quốc tế và khu vực.
![]() |
| PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh. |
Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh các Trung tâm Tài chính lớn đã “quá chín” ở nhiều mảng, Việt Nam có thể tạo lợi thế so sánh ở những phân khúc tài chính nào đang hình thành?
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Điểm mạnh lớn nhất của Việt Nam nằm ở vị thế nền kinh tế đang lên trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Trong khi nhiều Trung tâm Tài chính quốc tế lớn đã bước vào giai đoạn bão hòa, Việt Nam lại đang ở chu kỳ tăng trưởng mới, với nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng, công nghiệp, chuyển đổi năng lượng, kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Đây chính là “đất diễn” tự nhiên cho các dịch vụ tài chính quốc tế, đặc biệt là tài chính dự án, tài chính xanh và các cấu trúc huy động vốn trung - dài hạn. Lợi thế này càng rõ hơn khi Trung tâm Tài chính quốc tế được đặt tại TP. Hồ Chí Minh - đầu tàu kinh tế, cửa ngõ thương mại và logistics của cả nước, nơi hội tụ sẵn dòng FDI, doanh nghiệp đa quốc gia và hệ sinh thái dịch vụ phát triển nhất Việt Nam.
Một lợi thế khác mang tính chiến lược là khả năng “đi thẳng” vào các mô hình tài chính mới. Việt Nam không bị ràng buộc quá nặng bởi hạ tầng tài chính truyền thống hay các lợi ích đã cố định như những trung tâm lâu đời. Điều này mở ra dư địa để thiết kế các cơ chế linh hoạt hơn cho fintech, tài sản số, sandbox tài chính, cũng như các mô hình tài chính gắn với công nghệ AI, blockchain và dữ liệu lớn. Nếu tận dụng tốt, Việt Nam có thể không cần cạnh tranh trực diện với Singapore hay Hong Kong ở những mảng đã quá chín, mà tạo ra lợi thế so sánh ở những phân khúc đang hình thành.
Tóm lại, Việt Nam bước vào cuộc đua xây dựng trung tâm tài chính quốc tế với lợi thế của người đi sau nhưng không đi chậm: có thị trường, có nhu cầu vốn, có dư địa thể chế và chi phí cạnh tranh. Song song với đó là thách thức về chiều sâu thị trường, chất lượng thể chế và năng lực vận hành. Vấn đề không nằm ở việc Việt Nam có thể “bắt kịp” các trung tâm tài chính lớn trong khu vực hay không, mà là liệu Việt Nam có đủ bản lĩnh và kiên định để chọn đúng phân khúc, đi đúng lộ trình và tạo ra một mô hình trung tâm tài chính khác biệt, phù hợp với giai đoạn phát triển và cấu trúc kinh tế của chính mình.
Phóng viên: Lợi thế là vậy, nhưng theo ông, Việt Nam nên ưu tiên phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế theo hướng nào để tạo khác biệt, hấp dẫn dòng vốn hơn?
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Theo tôi, để tạo khác biệt và lợi thế cạnh tranh thực chất, Việt Nam không nên tiếp cận Trung tâm Tài chính quốc tế theo tư duy “bắt chước mô hình sẵn có”, mà cần định vị lại vai trò của trung tâm này trong chuỗi giá trị tài chính khu vực, phù hợp với giai đoạn phát triển và cấu trúc kinh tế của Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam nên ưu tiên xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế như một nền tảng huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế đang chuyển đổi, thay vì cố gắng trở thành trung tâm trung gian tài chính toàn cầu theo kiểu truyền thống. Lợi thế lớn nhất của Việt Nam không nằm ở việc cạnh tranh trực diện với các trung tâm đã rất sâu và chín như Singapore hay Hong Kong, mà ở chỗ Việt Nam đang có nhu cầu vốn khổng lồ và rất đa dạng cho hạ tầng, sản xuất, logistics, chuyển đổi năng lượng, đô thị hóa và kinh tế số. Nếu Trung tâm Tài chính quốc tế được thiết kế để phục vụ trực tiếp những nhu cầu này thông qua các cấu trúc tài chính quốc tế linh hoạt, thì đó chính là “câu chuyện” khác biệt mà nhà đầu tư quan tâm.
Thứ hai, Việt Nam nên đi theo hướng Trung tâm Tài chính gắn với kinh tế thực, chứ không phải một “ốc đảo tài chính”. Trung tâm tài chính quốc tế cần trở thành điểm kết nối giữa dòng vốn quốc tế với các khu công nghiệp, chuỗi cung ứng, cảng biển, logistics và các doanh nghiệp FDI lẫn doanh nghiệp nội địa. Khi tài chính gắn chặt với sản xuất, thương mại và dịch vụ, rủi ro bong bóng tài sản sẽ được kiểm soát tốt hơn, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng thực cho nền kinh tế.
Thứ ba, một hướng ưu tiên rất quan trọng là tài chính xanh, tài chính bền vững và tài chính chuyển đổi. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết mạnh mẽ với các mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, Trung tâm Tài chính quốc tế có thể trở thành đầu mối phát hành, giao dịch và cấu trúc các sản phẩm tài chính xanh, trái phiếu chuyển đổi, tín chỉ carbon và các công cụ tài chính phục vụ chuyển đổi năng lượng trong khu vực. Nếu làm tốt, Việt Nam không chỉ thu hút vốn, mà còn định vị mình là trung tâm tài chính của một nền kinh tế đang chuyển đổi theo hướng bền vững – một phân khúc còn rất nhiều dư địa.
Thứ tư, Việt Nam cần tận dụng lợi thế của người đi sau để phát triển trung tâm tài chính số và công nghệ cao. Điều này không có nghĩa là chạy theo mọi xu hướng mới, mà là lựa chọn có trọng tâm: sandbox cho fintech, ứng dụng AI trong quản trị rủi ro và giám sát, hạ tầng số cho giao dịch xuyên biên giới, và các mô hình tài chính mới gắn với dữ liệu. Khi công nghệ trở thành “xương sống” của Trung tâm Tài chính quốc tế, chi phí vận hành sẽ thấp hơn, tốc độ đổi mới nhanh hơn và khả năng mở rộng cao hơn so với các trung tâm truyền thống.
Thứ năm, để tất cả các hướng đi trên tạo ra lợi thế cạnh tranh thực sự, yếu tố quyết định vẫn là thể chế đủ mở và đủ khác biệt. Trung tâm Tài chính quốc tế phải được trao không gian thử nghiệm chính sách, quyền tự chủ vận hành và cơ chế giải trình rõ ràng, để có thể phản ứng nhanh với thị trường quốc tế. Nếu Trung tâm chỉ là phiên bản “nâng cấp hành chính” của thị trường trong nước, thì mọi lợi thế về vị trí hay chi phí sẽ nhanh chóng bị triệt tiêu.
Tóm lại, Việt Nam nên ưu tiên phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế theo hướng phục vụ kinh tế thực, dẫn dắt tài chính xanh và chuyển đổi, ứng dụng công nghệ cao và vận hành trên nền tảng thể chế linh hoạt.
![]() |
| Mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu ra mắt chính thức Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam ở TP HCM chậm nhất đến 9/2. |
Phóng viên: Ông có hình dung như thế nào về lộ trình triển khai Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam trong 5-10 năm tới?
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trong khung thời gian 5-10 năm tới, tôi kỳ vọng lộ trình triển khai Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam sẽ đi theo hướng tiến hóa có kiểm soát, chậm mà chắc về thể chế nhưng đủ nhanh để nắm bắt cơ hội khu vực và toàn cầu.
Trong 5 năm đầu, kỳ vọng lớn nhất của tôi không nằm ở quy mô hay số lượng định chế tài chính quốc tế tham gia, mà ở việc định hình thành công “không gian thể chế đặc thù” cho Trung tâm Tài chính. Giai đoạn này cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý cốt lõi, cơ chế sandbox, mô hình quản trị – điều hành và phân định rõ thẩm quyền giữa Trung tâm Tài chính với các cơ quan quản lý hiện hành. Nếu trong 5 năm đầu, Việt Nam chứng minh được rằng Trung tâm Tài chính quốc tế có thể vận hành ổn định, minh bạch, xử lý tốt các sản phẩm tài chính mới và không tạo rủi ro hệ thống, thì đó đã là một thành công rất lớn. Quan trọng hơn, đây sẽ là giai đoạn xây dựng uy tín thể chế – yếu tố then chốt để thu hút các nhà đầu tư và định chế tài chính lớn trong giai đoạn sau.
Ở mốc 5–7 năm, tôi kỳ vọng Trung tâm Tài chính quốc tế bắt đầu phát huy rõ vai trò dẫn dắt thị trường vốn. Khi đó, các hoạt động huy động vốn quốc tế, phát hành trái phiếu, tài chính dự án, tài chính xanh và các cấu trúc tài chính phức tạp sẽ dần hình thành một hệ sinh thái đủ độ sâu. Hệ thống ngân hàng trong nước cũng sẽ có sự dịch chuyển rõ rệt về mô hình kinh doanh, gắn chặt hơn với thị trường vốn và dịch vụ tài chính giá trị gia tăng cao. Quan trọng hơn, những thực tiễn tốt từ Trung tâm Tài chính có thể được chọn lọc để lan tỏa ra thị trường tài chính trong nước, tạo động lực cải cách rộng hơn cho toàn bộ hệ thống.
Trong tầm nhìn 10 năm, kỳ vọng của tôi là Việt Nam không chỉ “có” một Trung tâm Tài chính quốc tế, mà đã định vị được vai trò riêng của mình trong bản đồ tài chính khu vực. Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam có thể không cạnh tranh trực diện về quy mô với Singapore hay Hong Kong, nhưng hoàn toàn có thể trở thành đầu mối tài chính cho một nền kinh tế đang chuyển đổi nhanh, gắn tài chính với sản xuất, logistics, chuyển đổi năng lượng và kinh tế số. Khi đó, Trung tâm Tài chính không chỉ phục vụ Việt Nam, mà còn đóng vai trò kết nối dòng vốn cho khu vực tiểu vùng Mekong và ASEAN mở rộng.
Điều tôi kỳ vọng xuyên suốt trong 5-10 năm tới là sự kiên định về tầm nhìn và nhất quán trong chính sách. Trung tâm tài chính quốc tế là một dự án dài hạn, không thể đánh giá bằng kết quả một hay hai năm. Nếu Việt Nam tránh được tâm lý nóng vội, không chạy theo thành tích ngắn hạn, và chấp nhận để Trung tâm Tài chính trưởng thành dần cùng với cải cách thể chế, thì hiệu quả mang lại sẽ bền vững hơn rất nhiều.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
Tin tức khác
Kiểm toán nhà nước năm 2027: Tập trung vào ngân sách, đầu tư công, tài chính ngân hàng
Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển bằng các giải pháp, mục tiêu cụ thể
Sửa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cùng 2 luật thuế khác, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2
Việt Nam - Trung Quốc trao đổi kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước
Tổ chức tín dụng có vốn nhà nước phải báo cáo kế hoạch tài chính hằng năm
Sửa Luật Đầu tư: Số hóa quản lý, nâng chất lượng đầu tư nước ngoài
Điều chỉnh tiền sử dụng đất giúp giảm áp lực tài chính cho người dân
PODCAST: Trợ lý ảo Chatbot đồng hành cùng hộ kinh doanh trên eTax Mobile
VIDEO: Dấu mốc mới với thị trường chứng khoán Việt Nam
PODCAST: Bộ Tài chính gắn hoàn thiện thể chế, điều hành tài khóa với mục tiêu tăng trưởng
VIDEO: Tham gia vào chỉ số thị trường mới nổi của FTSE GEIS - Dấu mốc lịch sử với thị trường tài chính Việt Nam
PODCAST: Thị trường chứng khoán Việt Nam tuần 14-18/9/2026
Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường chấn chỉnh quản lý, sử dụng nhà thầu phụ đảm bảo kỷ luật triển khai dự án
Việt Nam - Hoa Kỳ: Động lực mới cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện
Sửa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cùng 2 luật thuế khác, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2
Việt Nam định hướng thu hút FDI gắn với công nghệ và chuyển đổi xanh
Giá điện phải tính đúng chi phí, không chuyển rủi ro sang người dùng
Luật hóa cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng: Cấm cả sản phẩm, linh kiện
TP. Hồ Chí Minh: Nguồn lực tài chính, ngân sách, đất đai cần được phát huy giá trị cao hơn
Sẽ trình Bộ Chính trị Đề án cải cách tiền lương vào tháng 2/2027
Tôn vinh những người lao động bền bỉ sáng tạo trong dòng chảy công nghệ
Phát triển của ngành du lịch cần được đo bằng giá trị tạo ra cho nền kinh tế
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Logistics quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Việt Nam - Hoa Kỳ: Động lực mới cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện
TP. Hồ Chí Minh: Kiên quyết thu hồi loạt nhà đất công sử dụng không hiệu quả, lãng phí
Hàng loạt dự án lớn tạo lực đẩy cho công nghiệp và hạ tầng
Vốn cho hạ tầng không thể chỉ dựa vào ngân hàng
Đánh thức nguồn lực 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cho tăng trưởng
CEO Techcombank: Tăng trưởng GDP 10%, Việt Nam cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn trong 5 năm tới










