Bài 3: Đồng bộ điều kiện thực hiện, khơi thông nguồn lực phát triển
Nguyễn Văn Kiên, Trưởng Nghiệp vụ
Nguyễn Phương Anh, Phó trưởng Nghiệp vụ
Đỗ Thị Loan, Lê Thị Thảo, Chuyên viên Ban Tuyên giáo Đảng ủy Agribank
![]() |
| Công nghệ số cần giúp doanh nghiệp kiểm soát tiêu hao, theo dõi phát thải và quản lý quá trình sản xuất. Ảnh minh họa tạo bởi AI. |
Yêu cầu mới trong gắn kết chuyển đổi xanh với tín dụng xanh
Yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới cần được chuyển thành tiêu chí lựa chọn và đánh giá dự án. Khi năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tiêu hao năng lượng cùng được đặt ra, quyết định tài trợ không thể chỉ dựa vào nhãn xanh hoặc quy mô vốn. Cần xem dự án tạo ra thay đổi gì trong quy trình sản xuất, mức tiết kiệm có thể đo lường ra sao, dòng tiền có đủ trả nợ không và lợi ích môi trường được duy trì thế nào sau đầu tư. Đây là nguyên tắc xuyên suốt để kết nối chính sách, tín dụng và kết quả phát triển.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên, đồng thời xác định đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng trên 55% và giảm tiêu hao năng lượng trên đơn vị GDP ở mức 1% - 1,5%/năm (1). Việc đặt các chỉ tiêu này trong cùng định hướng phát triển thể hiện yêu cầu kết hợp tốc độ với chất lượng. Từ đó, tín dụng xanh cần được xem xét trong khả năng hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực và mở rộng năng lực sản xuất, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô.
Trước hết, cần thống nhất nhận thức rằng mục tiêu của chuyển đổi là nâng cao năng lực phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp đầu tư để giảm tiêu hao năng lượng cần đồng thời tính đến chất lượng sản phẩm, khả năng vận hành và thị trường. Ngân hàng cấp vốn cần quan tâm cả kết quả tài chính và lợi ích môi trường. Cơ quan quản lý đánh giá chương trình phải xem nguồn lực đã tạo thêm năng lực gì cho sản xuất. Sự thống nhất về mục tiêu sẽ giúp các chủ thể có căn cứ lựa chọn dự án và phối hợp thực hiện, hạn chế tình trạng chạy theo chỉ tiêu riêng.
Yêu cầu tiếp theo là bảo đảm hài hòa giữa vai trò kiến tạo của Nhà nước với nguyên tắc thị trường. Lợi ích môi trường có thể lan tỏa đến cộng đồng trong khi chi phí đầu tư do doanh nghiệp trực tiếp gánh chịu. Chính sách công cần xử lý sự chênh lệch này để tạo động lực chuyển đổi. Tuy nhiên, hỗ trợ phải hướng đến những nhu cầu có căn cứ và kết quả có thể đánh giá. Nếu ưu đãi thiếu điều kiện hoặc kéo dài mà không xem xét hiệu quả, nguồn lực dễ bị phân tán và doanh nghiệp thiếu động lực cải thiện năng lực.
Đối với ngân hàng, yêu cầu mở rộng tài trợ phải gắn với an toàn vốn và trách nhiệm đối với người gửi tiền. Tiêu chí xanh giúp nhận diện mục đích môi trường nhưng không thay thế đánh giá khả năng trả nợ. Một dự án có thể giảm phát thải mà vẫn gặp khó khăn do chi phí cao, công nghệ thiếu ổn định hoặc sản phẩm khó tiêu thụ. Vì vậy, tín dụng xanh cần dựa trên phương án đầu tư khả thi, thông tin minh bạch và quản trị rủi ro phù hợp. Cách tiếp cận ấy tạo nền tảng để hoạt động tài trợ duy trì lâu dài, tránh mở rộng nhanh rồi phát sinh tổn thất.
Bên cạnh tính khả thi, cần chú trọng mức độ đóng góp của nguồn hỗ trợ. Với nguồn lực công có giới hạn, điều quan trọng là xác định hỗ trợ giúp khắc phục trở ngại nào, thúc đẩy khoản đầu tư nào và mang lại thêm lợi ích gì. Dự án đã đủ khả năng tiếp cận vốn thương mại cần được phân biệt với dự án có lợi ích lan tỏa nhưng còn thiếu điều kiện chuẩn bị. Hỗ trợ đúng khâu có thể tạo tác động lớn hơn việc ưu đãi đồng loạt. Đây là yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm công bằng giữa các chủ thể tham gia.
Một yêu cầu có ý nghĩa nền tảng là kết hợp chuyển đổi xanh với chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, xác định vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển đất nước. Vận dụng vào lĩnh vực này, công nghệ số cần giúp doanh nghiệp kiểm soát tiêu hao, theo dõi phát thải và quản lý quá trình sản xuất. Dữ liệu hình thành từ hoạt động thực tế có thể hỗ trợ lập dự án, thẩm định và giám sát vốn. Nhờ đó, mục tiêu xanh có cơ sở để được lượng hóa và kiểm chứng.
Tuy nhiên, số hóa chỉ có ý nghĩa khi thông tin đủ chính xác và chi phí áp dụng phù hợp. Một phần mềm không tự làm cho báo cáo đáng tin cậy nếu cách đo ban đầu sai hoặc thiếu người chịu trách nhiệm. Do vậy, cần đặt chất lượng dữ liệu, phương pháp đo lường và khả năng kiểm tra trong cùng yêu cầu. Đồng thời, phải bảo vệ bí mật kinh doanh, xác định quyền tiếp cận và trách nhiệm sử dụng thông tin. Với doanh nghiệp nhỏ, cách làm cần đơn giản, thiết thực, tránh biến công nghệ thành chi phí mới vượt quá năng lực.
Yêu cầu mới còn thể hiện ở việc lựa chọn lộ trình phù hợp cho từng nhóm hoạt động. Những ngành đang sử dụng nhiều năng lượng cần thời gian và nguồn lực để thay đổi công nghệ. Nếu thiếu phương án tài trợ cho quá trình cải thiện từng bước, mục tiêu chuyển đổi có thể khó thực hiện. Tuy nhiên, việc hỗ trợ cần gắn với mức cải thiện rõ ràng, tiến độ cụ thể và khả năng tránh duy trì công nghệ lạc hậu quá lâu. Cần phân biệt tài trợ quá trình chuyển đổi với cấp tín dụng cho dự án đã đáp ứng tiêu chí xanh, bảo đảm sự minh bạch trong phân loại và đánh giá.
Đa dạng hóa nguồn lực cũng là yêu cầu khách quan. Các dự án ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, xây dựng hoặc vận hành có mức độ rủi ro và nhu cầu vốn khác nhau. Vốn ngân sách, vốn chủ sở hữu, tín dụng và thị trường vốn cần được sử dụng phù hợp với từng nhu cầu. Việc đưa mọi dự án vào cùng một khuôn khổ vay ngân hàng có thể làm tăng rủi ro kỳ hạn và hạn chế cơ hội triển khai. Cơ cấu tài trợ hợp lý cần giúp bên có năng lực quản lý loại rủi ro nào đảm nhận phần trách nhiệm tương ứng.
Cùng với đó, phát triển xanh phải mở rộng cơ hội tham gia cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ sản xuất và người lao động. Những chủ thể này có thể thiếu dữ liệu, kỹ năng hoặc chi phí chuẩn bị dự án, nhưng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và sinh kế địa phương. Yêu cầu phát triển bao trùm đòi hỏi cơ chế giúp họ từng bước nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn. Việc làm, thu nhập và khả năng thích ứng của người lao động cũng cần được tính đến khi lựa chọn công nghệ và tổ chức lại sản xuất.
Trong huy động nguồn lực quốc tế, cần gắn tiếp nhận vốn với nâng cao năng lực trong nước. Giá trị hợp tác thể hiện ở công nghệ được làm chủ, đội ngũ được đào tạo và phương thức quản trị được cải thiện. Điều kiện vay, rủi ro tỷ giá và chi phí tuân thủ phải được tính đầy đủ trong phương án tài chính. Tiếp cận chuẩn mực quốc tế cần đi cùng khả năng vận dụng phù hợp, bảo đảm lợi ích quốc gia và năng lực tự chủ. Đây là điều kiện để nguồn lực bên ngoài góp phần củng cố nền tảng phát triển lâu dài.
Cần nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện và đánh giá theo kết quả. Một mục tiêu chỉ có khả năng hoàn thành khi gắn với chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn lực và thời hạn cụ thể. Sự phối hợp phải giải quyết được công việc giữa các cơ quan, ngân hàng và doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở trao đổi thông tin. Kết quả cần thể hiện qua dự án được triển khai hiệu quả, năng suất tăng, tiêu hao giảm và lợi ích của người dân được bảo đảm. Những yêu cầu ấy là căn cứ để xây dựng hệ thống giải pháp vừa đồng bộ vừa có trọng tâm.
![]() |
| Cần xây dựng chương trình tư vấn có trọng tâm cho doanh nghiệp, hợp tác xã về đánh giá hiện trạng, lựa chọn phương án chuyển đổi và lập kế hoạch tài chính. Ảnh minh họa tạo bởi AI. |
Giải pháp đồng bộ để khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả chuyển đổi
Giải pháp cần được triển khai theo thứ tự ưu tiên, gắn với trách nhiệm và đầu ra có thể kiểm tra. Trước tiên là tháo gỡ những bất định về tiêu chí và thủ tục; kế đến hỗ trợ doanh nghiệp hình thành dự án có phương án công nghệ, tài chính và thị trường rõ ràng; tiếp theo là phối hợp các nguồn vốn theo kỳ hạn và mức độ rủi ro; sau cùng là theo dõi kết quả kinh tế, môi trường để điều chỉnh công cụ hỗ trợ. Trình tự này giúp tránh tình trạng có chính sách nhưng thiếu dự án, có vốn nhưng không hấp thụ được, hoặc giải ngân xong mà không chứng minh được hiệu quả.
Thứ nhất, nâng cao tính thống nhất và khả năng thực hiện của chính sách.
Trên cơ sở Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh, cần tăng hướng dẫn áp dụng theo nhóm ngành, làm rõ thành phần hồ sơ và trách nhiệm của từng bên. Với Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg (đã ban hành, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/11/2026), cần chuẩn bị việc triển khai đúng đối tượng, mục đích và điều kiện áp dụng. Những nội dung này phải được giải thích nhất quán, giúp doanh nghiệp phân biệt việc xác nhận dự án với điều kiện vay và điều kiện hưởng hỗ trợ.
Cơ quan quản lý cần rà soát những khâu có thể sử dụng chung thông tin, hạn chế yêu cầu cung cấp lặp lại tài liệu đã có giá trị pháp lý. Địa phương có thể bố trí đầu mối phối hợp xử lý vướng mắc dự án trong phạm vi thẩm quyền, công khai tiến độ và trách nhiệm giải quyết. Đầu mối này có nhiệm vụ kết nối công việc, không thay thế chức năng thẩm định của ngân hàng. Vướng mắc vượt thẩm quyền cần được tổng hợp theo vấn đề, kèm kiến nghị cụ thể để cơ quan có trách nhiệm xử lý.
Thứ hai, hỗ trợ chuẩn bị dự án và lựa chọn công nghệ phù hợp.
Cần xây dựng chương trình tư vấn có trọng tâm cho doanh nghiệp, hợp tác xã về đánh giá hiện trạng, lựa chọn phương án chuyển đổi và lập kế hoạch tài chính. Các cơ quan chuyên môn, hiệp hội, viện nghiên cứu và tổ chức tư vấn đủ năng lực có thể phối hợp cung cấp dịch vụ. Sản phẩm hỗ trợ phải là phương án đầu tư có thể xem xét tài trợ, gồm công nghệ, tổng chi phí, tiến độ, nguồn thu và chỉ tiêu môi trường. Kinh phí hỗ trợ nên gắn với đầu ra rõ ràng và sự tham gia đối ứng phù hợp của chủ dự án.
Trong lựa chọn công nghệ, cần khuyến khích so sánh hiệu quả trong toàn bộ thời gian sử dụng, tính cả lắp đặt, bảo trì, đào tạo và xử lý thiết bị sau sử dụng. Những giải pháp đã được kiểm chứng có thể triển khai theo nhóm doanh nghiệp hoặc chuỗi sản xuất để giảm chi phí tư vấn. Với công nghệ mới, cần thử nghiệm ở quy mô phù hợp trước khi mở rộng. Cách làm từng bước giúp doanh nghiệp tránh đầu tư vượt khả năng, đồng thời tạo dữ liệu thực tế cho quyết định cấp vốn.
Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn và chia sẻ rủi ro có điều kiện.
Đầu tư công cần ưu tiên hạ tầng và dịch vụ nền tảng có khả năng hỗ trợ nhiều chủ thể, như hệ thống cấp, thoát nước, xử lý chất thải và hạ tầng số dùng chung. Vốn chủ sở hữu phải thể hiện trách nhiệm của nhà đầu tư; tín dụng tài trợ phần nhu cầu phù hợp khả năng hoàn trả; thị trường vốn bổ sung nguồn lực dài hạn. Hỗ trợ ngân sách cần lựa chọn theo mức độ cần thiết, lợi ích lan tỏa và khả năng huy động thêm vốn xã hội, tránh dàn trải hoặc thay thế phần trách nhiệm của doanh nghiệp.
Có thể nghiên cứu mở rộng các cơ chế bảo lãnh một phần, hỗ trợ kỹ thuật hoặc tài chính hỗn hợp trên cơ sở đánh giá thận trọng. Năm 2021, Ngân hàng Thế giới công bố hỗ trợ của Quỹ Khí hậu xanh cho tiết kiệm năng lượng công nghiệp tại Việt Nam gồm khoản viện trợ 11,3 triệu USD và bảo lãnh 75 triệu USD (2). Thiết kế kết hợp năng lực kỹ thuật với chia sẻ rủi ro là kinh nghiệm đáng nghiên cứu; đây là quy mô hỗ trợ công bố, không phải kết quả giải ngân. Cơ chế áp dụng mới cần quy định hạn mức, điều kiện chi trả, nghĩa vụ giám sát và phần rủi ro ngân hàng tiếp tục chịu.
Thứ tư, xây dựng dữ liệu phục vụ đồng thời quản trị xanh và quyết định tài chính.
Cơ quan quản lý chuyên ngành cần từng bước thống nhất chỉ tiêu, phương pháp và biểu mẫu đối với các nhóm dự án phổ biến. Doanh nghiệp tổ chức ghi nhận dữ liệu từ khâu vận hành; ngân hàng xác định thông tin cần thiết theo mức rủi ro của khoản vay. Việc kết nối cần tuân thủ quy định bảo vệ dữ liệu và bí mật kinh doanh. Trong giai đoạn đầu, nên lựa chọn lĩnh vực có nhu cầu rõ để triển khai, sử dụng những hệ thống sẵn có và đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.
Ứng dụng số có thể bắt đầu từ những việc thiết thực như đo điện, nước, theo dõi nguyên liệu và ghi nhận sản lượng. Khi dữ liệu được thu thập thường xuyên, doanh nghiệp có thêm công cụ điều hành và chứng minh kết quả đầu tư. Các tổ chức xác nhận cần giữ tính độc lập, chịu trách nhiệm về kết quả chuyên môn. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ nên hướng đến dịch vụ dùng chung và biểu mẫu dễ áp dụng, hạn chế việc mỗi bên yêu cầu một hệ thống báo cáo riêng.
Thứ năm, đổi mới phương thức tài trợ gắn với nâng cao năng lực con người.
Tổ chức tín dụng cần thiết kế thời hạn vay, ân hạn, tiến độ giải ngân và lịch trả nợ dựa trên đặc điểm dự án, trong giới hạn pháp luật và khả năng nguồn vốn. Thẩm định cần xem xét các tình huống thay đổi giá đầu vào, sản lượng hoặc chi phí vận hành. Tài sản bảo đảm được đánh giá cùng dòng tiền và các điều kiện liên quan; mục tiêu là hiểu đúng rủi ro, không nới lỏng tiêu chuẩn an toàn một cách cơ học. Dự án cần có phương án xử lý khi kết quả thực hiện khác dự kiến.
Đào tạo nên tổ chức theo công việc cụ thể: cán bộ ngân hàng học về công nghệ và rủi ro ngành; doanh nghiệp học lập phương án tài chính, quản lý dữ liệu; người lao động được hướng dẫn vận hành, bảo trì. Có thể phát triển nhóm chuyên gia hỗ trợ nhiều chi nhánh hoặc nhiều doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực để tiết kiệm nguồn lực. Năng lực cần được đánh giá qua chất lượng hồ sơ, quyết định và kết quả vận hành, thay vì chỉ qua số lượt tham gia tập huấn.
Thứ sáu, phát triển liên kết thị trường và cơ chế đánh giá kết quả.
Trong nông nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu mối có thể kết nối hộ sản xuất với quy trình kỹ thuật, thu mua và thanh toán, trên cơ sở hợp đồng minh bạch. Trong công nghiệp, liên kết giữa nhà cung cấp, đơn vị sử dụng và doanh nghiệp dịch vụ giúp xác định nhu cầu đầu tư. Mua sắm công có thể lồng ghép yêu cầu môi trường theo quy định, bảo đảm cạnh tranh và hiệu quả chi phí. Nguồn thu từ tín chỉ carbon chỉ nên đưa vào phương án tài chính khi có căn cứ pháp lý, dữ liệu và khả năng thương mại đủ tin cậy.
Mỗi chương trình cần xác định chỉ tiêu đầu ra từ khi thiết kế, lựa chọn phù hợp mục tiêu: vốn thực tế sử dụng, năng suất, lượng tài nguyên tiết kiệm, kết quả môi trường, việc làm và thu nhập. Đánh giá cần tách cam kết vốn với giải ngân, kết quả dự kiến với kết quả đã kiểm chứng. Cơ quan chủ trì định kỳ công khai tiến độ phù hợp, tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh những khâu kém hiệu quả. Qua đó, trách nhiệm thực thi gắn trực tiếp với kết quả phát triển.
Chuyển đổi xanh gắn với tín dụng xanh chỉ tạo được dấu ấn trong mô hình tăng trưởng mới khi chuỗi thực hiện được khép kín: tiêu chí rõ ràng, dự án khả thi, vốn phù hợp, công nghệ vận hành được và kết quả được đo lường. Nhà nước cần tháo gỡ vướng mắc thể chế và hỗ trợ đúng khâu; ngân hàng cần đánh giá cả dòng tiền lẫn rủi ro môi trường; doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về phương án đầu tư và kết quả sử dụng vốn. Thước đo cuối cùng không phải số chương trình được ban hành hay lượng vốn cam kết, mà là năng suất tăng, tài nguyên tiết kiệm, phát thải giảm và năng lực cạnh tranh được cải thiện.
Tài liệu tham khảo:
(1)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 84.
(2) Lê Thị Quỳnh Anh: “Ngân hàng Thế giới, Quỹ Khí hậu Xanh cấp 86,3 triệu USD cho Việt Nam hỗ trợ thúc đẩy đầu tư vào tiết kiệm năng lượng”, Ngân hàng Thế giới, ngày 8/3/2021, https://www.worldbank.org/vi/news/press-release/2021/03/08/wb-gcf-provide-vietnam-with-us863-million-to-spur-energy-efficiency-investments.
Tin tức khác
Tỷ giá tháng 11 và kỳ vọng giữ ổn định đến cuối năm
Lãi suất tháng 11 giảm nhiệt, cuối năm khó giảm sâu
Dòng tiền tuần qua: Tín dụng vượt 20,8 triệu tỷ đồng, ngân hàng phân hóa lợi nhuận
Giá vàng hôm nay: Vàng SJC bình lặng, thế giới kỳ vọng tìm lại mốc 4.000 USD/ounce
Lãi suất khó giảm sâu, cổ phiếu vẫn được kỳ vọng lãi hơn 20%
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Không thể có hai bảng cân đối, một để nộp thuế, một để vay vốn
Vietcombank dẫn đầu lợi nhuận 9 tháng, nhóm ngân hàng nhỏ tăng trưởng mạnh
PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?
POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?
PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%
VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường
Nông nghiệp cần động lực tăng trưởng mới từ nâng cao giá trị chuỗi sản xuất
Bài 4: Khai phá kinh tế trải nghiệm đô thị và dịch vụ giá trị cao
Bài 4: Tăng trưởng vì Nhân dân - Thành quả phải đi vào đời sống










