aa

Giải pháp kinh tế - tài chính thực hiện mục tiêu đổi mới mô hình phát triển Việt Nam

13:45 | 11/09/2026
Đổi mới mô hình phát triển là yêu cầu cấp thiết để Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Giai đoạn 2021-2025, kinh tế Việt Nam tăng trưởng bình quân 6,2%/năm; tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 9,9 triệu tỷ đồng và nợ công cuối năm 2025 ở mức 34,4% GDP. Tuy nhiên, năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,21%/năm, hệ số ICOR ở mức 6,43; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và kinh tế số chưa đạt mục tiêu. Trong 7 tháng đầu năm 2026, sản xuất, đầu tư, tiêu dùng và thu ngân sách tiếp tục tăng nhưng có áp lực lạm phát, nhập siêu, sự phụ thuộc vào khu vực FDI và tín dụng ngân hàng gia tăng. Bài viết này tập trung nhận diện 4 điểm nghẽn cốt lõi và đề xuất 5 nhóm giải pháp kinh tế - tài chính nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

TS.Nguyễn Như Quỳnh

Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Email: [email protected]

ThS.Vũ Thị Huyền Trang

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Email: [email protected]

NỀN TẢNG KINH TẾ VÀ MỘT SỐ ĐIỂM NGHẼN CỐT LÕI

Kết quả tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025 và 07 tháng đầu năm 2026

Giai đoạn 2021-2025, mặc dù chịu tác động của dịch COVID-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động giá năng lượng và thương mại toàn cầu suy giảm, kinh tế Việt Nam vẫn phục hồi khá vững chắc. GDP tăng bình quân 6,2%/năm; riêng giai đoạn 2022-2025 đạt 7,13%/năm và năm 2025 tăng 8,02%. Trong 26 chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm, có 22 chỉ tiêu đạt và vượt, 02 chỉ tiêu xấp xỉ đạt. Quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD năm 2020 lên khoảng 514,4 tỷ USD năm 2025; GDP bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD lên 5.026 USD.

Ổn định vĩ mô và các cân đối lớn cơ bản được giữ vững. CPI bình quân hằng năm dưới 4%; tổng thu NSNN giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 9,9 triệu tỷ đồng; bội chi bình quân khoảng 3,1-3,2% GDP và nợ công cuối năm 2025 khoảng 34,4% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt 32,8% GDP. Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt 930 tỷ USD, xuất siêu 20,05 tỷ USD; FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đạt 80,4% GDP; kinh tế số chiếm 14,02% GDP và TFP đóng góp khoảng 47% tăng trưởng.

Trong những tháng đầu năm 2026, đà tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì. GDP 6 tháng tăng 8,18%; riêng quý II tăng 8,39%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%. Trong 7 tháng, IIP tăng 11,4%; vốn đầu tư thực hiện từ NSNN đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4%; FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,1%; thu NSNN tăng 16,0%. Sản xuất, đầu tư, tiêu dùng và dịch vụ tiếp tục là các trụ đỡ chính.

Tuy nhiên, nền kinh tế đang đối mặt với những thách thức mới. CPI bình quân 7 tháng tăng 4,39%, lạm phát cơ bản tăng 4,19%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 28,1%, trong đó, nhập khẩu tăng 34,8%, nhanh hơn mức tăng 21,7% của xuất khẩu, khiến cán cân thương mại nhập siêu 20,52 tỷ USD. Khu vực FDI chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực trong nước chỉ chiếm 19,9%. Có 187,2 nghìn DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, nhưng 155,3 nghìn DN rút lui khỏi thị trường. Tín dụng đến ngày 31/7/2026 tăng 8,98% so với cuối năm 2025, cho thấy nhu cầu vốn cao hơn, đòi hỏi yêu cầu cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và an toàn hệ thống tài chính.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu GDP giai đoạn 2026-2030 tăng bình quân từ 10%/ năm trở lên; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 28% GDP; kinh tế số khoảng 30% GDP; TFP đóng góp trên 55% và năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm cho thấy khoảng cách giữa thực trạng so với mục tiêu đề ra của mô hình tăng trưởng mới còn tương đối rộng. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư, Việt Nam có thể duy trì tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng sẽ gây áp lực lên lạm phát, nợ công, bất động sản và môi trường. Yêu cầu cốt lõi là nâng hiệu suất, chuyển nguồn vốn thành năng lực sản xuất mới.

BẢNG 1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - TÀI CHÍNH CHỦ YẾU GIAI ĐOẠN 2021-2025

Chỉ tiêu

2021

2022

2023

2024

2025

2021-2025

Tăng trưởng GDP (%)

2,55

8,54

4,98

7,04

8,02

6,20

GDP theo giá hiện hành (nghìn tỷ đồng)

8.487,5

9.621,4

10.319,1

11.510,3

12.847,6

12.847,6*

GDP bình quân đầu người (USD)

3.720

4.155

4.323

4.700

5.026

5.026*

CPI bình quân (%)

1,84

3,15

3,25

3,63

3,31

3,04

Tỷ trọng chế biến, chế tạo/GDP (%)

24,46

24,66

24,11

24,33

24,53

24,53*

Tỷ trọng kinh tế số/GDP (%)

12,87

12,83

12,98

13,22

14,02

14,02*

Tăng năng suất lao động (%)

4,57

5,25

3,58

5,86

6,83

5,21

Vốn đầu tư toàn xã hội/GDP (%)

34,13

33,50

33,30

32,10

31,80

32,80

Hệ số ICOR

15,61

4,82

8,00

5,79

5,15

6,43

Tổng thu NSNN (nghìn tỷ đồng)

1.591,4

1.820,3

1.770,8

2.043,7

2.650,1

9.900

Bội chi NSNN/GDP (%)

2,5

3,1

2,8

3,1

3,6

3,1-3,2

Nợ công/GDP (%)

42,65

37,26

36,07

34,01

34,40

34,40*

Xuất khẩu hàng hóa (tỷ USD)

336,17

371,72

354,72

405,53

475,06

1.943,6

Nhập khẩu hàng hóa (tỷ USD)

332,84

359,58

326,36

380,76

455,01

1.855,4

Cán cân thương mại (tỷ USD)

3,32

12,14

28,36

24,77

20,05

88,2

FDI thực hiện (tỷ USD)

19,70

22,40

23,18

25,35

27,62

118,17

Ghi chú: * là số cuối kỳ; các chỉ tiêu còn lại là bình quân hoặc lũy kế giai đoạn.

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo số 149/BC-CP ngày 03/4/2026; Cục Thống kê.

Một số điểm nghẽn cốt lõi của nền kinh tế thời gian qua

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào mở rộng đầu vào, trong khi hiệu quả sử dụng vốn và năng suất chưa tạo đột phá. Năng suất lao động giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng 5,21%/năm, thấp hơn mục tiêu trên 6,5% và mức 6,05% của giai đoạn 2016-2020. TFP đóng góp khoảng 47%, nghĩa là hơn một nửa tăng trưởng vẫn đến từ gia tăng vốn và lao động. Hệ số ICOR bình quân ở mức 6,43, cao hơn nhiều mục tiêu 4,5-4,8 cho giai đoạn 2026-2030. Năm 2025, năng suất lao động tăng 6,83% và ICOR giảm còn 5,15, nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng cải thiện bền vững.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu chưa đi cùng nâng cấp thực chất trong chuỗi giá trị và phát triển năng lực nội sinh của toàn nền kinh tế. Năm 2025, công nghiệp chế biến, chế tạo mới chiếm 24,53% GDP; kinh tế số chiếm 14,02% GDP, đều chưa đạt mục tiêu. Công nghiệp còn tập trung vào gia công, lắp ráp; liên kết giữa khu vực FDI và DN trong nước yếu. Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của khu vực FDI tăng 26,4%, trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 5,8%. Quy mô nhỏ, hạn chế về công nghệ, quản trị, R&D và liên kết giữa viện - trường khiến số DN trong nước làm chủ công nghệ, thương hiệu và chuỗi cung ứng còn ít.

Thứ ba, cấu trúc tài chính và phân bổ vốn chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới phát triển. Tính đến 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 1,67 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025. Trong khi đó, vốn DN huy động qua trái phiếu riêng lẻ và chào bán chứng khoán chỉ khoảng 351,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 21% mức tăng thêm của tín dụng. Sự phụ thuộc lớn vào nguồn vốn cung ứng từ ngân hàng làm tăng rủi ro kỳ hạn và hạn chế nguồn vốn dài hạn cho công nghệ, hạ tầng và chuyển đổi xanh.

Bên cạnh đó, đầu tư công chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt. Đến hết ngày 31/7/2026, giải ngân đầu tư công đạt 425,312 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; vốn NSTW đạt 32,3%, thấp hơn mức 47,3% của NSĐP. Điểm nghẽn không chỉ nằm ở thủ tục giải ngân, mà còn ở chất lượng chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, lựa chọn ưu tiên, phối hợp liên ngành và đánh giá sau đầu tư. Dự án chậm hoặc tác động thấp vừa không tạo năng lực sản xuất mới, vừa khó dẫn dắt vốn tư nhân.

Thứ tư, KHCN, nhân lực và yêu cầu tăng trưởng và phát triển xanh chưa kết nối thành hệ sinh thái phát triển. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44/139 về Chỉ số ĐMST toàn cầu, nhưng chưa có cụm ĐMST thuộc nhóm dẫn đầu; tỷ lệ DN thực hiện ĐMST chỉ đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm 2024. Lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,2%, chưa đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghệ cao. Phần số hóa trong các ngành ngoài lõi số mới đóng góp khoảng 5,60% GDP. Năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, liên kết giữa viện - trường - DN và số hóa sâu còn hạn chế. Đồng thời, nếu chi phí môi trường, rủi ro khí hậu và chuyển đổi việc làm không được lượng hóa trong quyết định đầu tư, tăng trưởng hiện tại có thể tạo nghĩa vụ tài chính lớn trong tương lai.

CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ - TÀI CHÍNH TRỌNG TÂM

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh cơ cấu ngành hay tăng vốn đầu tư, mà là thay đổi cách tạo giá trị, phân bổ nguồn lực và quản trị rủi ro. Chính sách kinh tế - tài chính cần chuyển từ phân bổ theo đầu vào sang quản trị theo kết quả; từ cấu trúc vốn thiên về tín dụng sang hệ thống tài chính đa tầng; từ ưu đãi dàn trải sang hỗ trợ có mục tiêu, điều kiện và thời hạn. Trọng tâm gồm 5 nhóm giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện khuôn khổ tài chính trung hạn gắn với năng suất và hiệu quả phân bổ.

Mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi tăng đầu tư cho hạ tầng, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, nhưng cũng gây áp lực lên ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn tài khóa. Vì vậy, cần chuyển từ lập ngân sách hằng năm, phân bổ theo đầu vào sang khuôn khổ tài chính trung hạn, thống nhất các quyết định về thu, chi, đầu tư và vay nợ; đồng thời, tăng cường liên kết ngân sách, đầu tư công, chiến lược nợ, doanh nghiệp nhà nước, dự án PPP và nghĩa vụ tài chính dự phòng. Mỗi chính sách mới phải xác định đầy đủ chi phí, nguồn bảo đảm và tác động tài khóa trong suốt thời gian thực hiện. Các kịch bản ứng phó với từng cú sốc cũng cần có ngưỡng cảnh báo và biện pháp điều chỉnh chi tiêu, vay nợ hoặc hỗ trợ tín dụng.

Phân bổ ngân sách phải gắn với năng suất và kết quả đầu ra, thay vì chỉ dựa vào mức chi hoặc tỷ lệ giải ngân. Mỗi chương trình, dự án cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, đầu ra và tác động cuối cùng. Kinh nghiệm OECD cho thấy khuôn khổ chi tiêu trung hạn chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp ngân sách theo kết quả với rà soát chi tiêu. Việt Nam có thể thực hiện rà soát định kỳ hai hoặc ba năm đối với các chương trình quy mô lớn, kéo dài nhiều năm, làm căn cứ để tiếp tục, điều chỉnh, chấm dứt hoặc chuyển nguồn lực sang ưu tiên mới.

Đầu tư công cần được quản trị theo danh mục trong giới hạn nguồn lực trung hạn, ưu tiên dự án có mức độ sẵn sàng cao, hiệu quả KT-XH rõ ràng, tăng liên kết vùng, dẫn dắt vốn tư nhân và phù hợp với mục tiêu phát triển xanh, số. Việc thẩm định và đánh giá sau đầu tư phải được tính đầy đủ chi phí, lợi ích trong toàn bộ vòng đời dự án đầu tư loại hình hợp thác công tư (PPP) chỉ nên được lựa chọn khi hiệu quả hơn đầu tư công truyền thống; mọi bảo lãnh, cam kết doanh thu, nghĩa vụ thanh toán và rủi ro chấm dứt hợp đồng phải được lượng hóa, công khai và phản ánh đầy đủ trong khuôn khổ tài chính trung hạn. Qua đó, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, củng cố kỷ luật tài khóa, tăng tính minh bạch và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng nhanh nhưng ổn định, bền vững.

Hai là, tiếp tục cải cách hệ thống thuế, ưu đãi và mua sắm công để thúc đẩy đổi mới.

Chính sách thuế trong mô hình phát triển mới cần vừa bảo đảm nguồn thu bền vững, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nhân lực và sản xuất xanh. Trọng tâm không phải mở rộng ưu đãi, mà là mở rộng cơ sở thu, thu hẹp ngoại lệ, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý các giao dịch số, xuyên biên giới. Ưu đãi đầu tư cần chuyển từ hỗ trợ rộng theo ngành, địa bàn và quy mô vốn sang các hoạt động tạo giá trị gia tăng như R&D, đào tạo nhân lực, chuyển đổi số và giảm phát thải; đồng thời, xác định rõ đối tượng, thời hạn, chi phí ngân sách và kết quả dự kiến.

Kinh nghiệm của OECD cho thấy ưu đãi thuế và tài trợ trực tiếp cho R&D có tính bổ trợ. Năm 2025, 34/38 nước OECD áp dụng ưu đãi thuế đối với chi R&D; công cụ này phù hợp hơn với DN đã có doanh thu hoặc lợi nhuận, trong khi tài trợ cạnh tranh thích hợp với nghiên cứu giai đoạn đầu, rủi ro cao. Với DN khởi nghiệp chưa có lợi nhuận chịu thuế, hoàn thuế hoặc chuyển tiếp ưu đãi sang các năm sau thiết thực hơn việc chỉ tăng mức ưu đãi danh nghĩa. Vì vậy, Việt Nam cần thiết kế hỗ trợ theo loại hình DN và giai đoạn đổi mới, công khai tiêu chí lựa chọn, mức hỗ trợ và kết quả đánh giá.

Bên cạnh đó, cần sử dụng mua sắm công để tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm và công nghệ mới. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) cho thấy việc thử nghiệm và mua sắm theo từng giai đoạn cho phép cơ quan nhà nước so sánh các phương án, lựa chọn giải pháp có triển vọng và dừng sớm những phương án không đạt yêu cầu. Trong khi đó, hệ thống KONEPS của Hàn Quốc tích hợp các khâu đăng tải nhu cầu, dự thầu, ký hợp đồng, nghiệm thu và thanh toán trên một nền tảng điện tử, tăng khả năng truy vết và giám sát. Việt Nam có thể kết hợp bằng cách dành không gian cho thử nghiệm công nghệ mới, các quá trình lựa chọn, nghiệm thu và thanh toán phải được số hóa, công khai và kiểm soát cạnh tranh. Trước mắt, có thể thí điểm trong những lĩnh vực mà khu vực công có nhu cầu lớn và ổn định như y tế, giáo dục, môi trường, giao thông và dịch vụ hành chính số. Sự phối hợp giữa môi trường thuế ổn định, ưu đãi có điều kiện và mua sắm công minh bạch sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà vẫn bảo đảm kỷ luật tài khóa và cạnh tranh bình đẳng.

Ba là, đẩy mạnh phát triển hệ thống tài chính đa tầng cho ĐMST và huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.

ĐMST thường dựa vào tài sản vô hình, rủi ro cao và thời gian hoàn vốn dài nên khó đáp ứng yêu cầu về tài sản bảo đảm và dòng tiền của tín dụng truyền thống. Cần phát triển hệ thống tài chính đa tầng, trong đó, mỗi công cụ phù hợp với một giai đoạn: tài trợ cạnh tranh, vốn hạt giống cho nghiên cứu và sản phẩm mẫu; quỹ đồng đầu tư, vốn mạo hiểm, bảo lãnh tín dụng và khoản vay dựa trên dòng tiền khi công nghệ được kiểm chứng; trái phiếu, quỹ dài hạn và thị trường cổ phiếu khi DN mở rộng. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa và tránh áp dụng một cơ chế chung cho mọi dự án.

Vốn nhà nước cần đóng vai trò vốn mồi, chia sẻ có giới hạn rủi ro và dẫn dắt vốn tư nhân. Kinh nghiệm chương trình SBIR/STTR của Hoa Kỳ cho thấy hỗ trợ nên được giải ngân theo từng giai đoạn, gắn với kết quả và đánh giá độc lập; trong khi InvestEU sử dụng bảo lãnh ngân sách để huy động vốn tư nhân nhưng kiểm soát rủi ro theo danh mục và công khai nghĩa vụ dự phòng. Việt Nam có thể vận dụng các nguyên tắc này đối với Quỹ ĐMST, Quỹ bảo lãnh tín dụng và dự án PPP; mọi cam kết của Nhà nước phải được lượng hóa, giám sát và phản ánh trong khuôn khổ tài khóa trung hạn.

Đồng thời, cần nâng cao chất lượng công bố thông tin, xếp hạng tín nhiệm, bảo vệ nhà đầu tư và xử lý mất khả năng thanh toán; hoàn thiện cơ chế định giá, đăng ký và sử dụng tài sản trí tuệ để huy động vốn; phát triển khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát và thu hút các quỹ bảo hiểm, hưu trí, đầu tư dài hạn. Tín dụng ngân hàng cần từng bước chuyển từ phụ thuộc vào tài sản thế chấp sang thẩm định dựa trên dòng tiền, dữ liệu kinh doanh và triển vọng dự án. Khi vốn nhà nước được sử dụng có điều kiện để dẫn dắt vốn tư nhân, còn thị trường vốn và hệ thống tín dụng được củng cố bằng các chuẩn mực minh bạch, Việt Nam sẽ có nền tảng tài chính phù hợp hơn cho quá trình đổi mới công nghệ và phát triển DN trong dài hạn.

Bốn là, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, đất đai và vốn nhà nước.

Tài sản công, đất đai và vốn nhà nước chỉ phát huy hiệu quả khi được nhận diện đầy đủ, định giá phù hợp và quản trị theo toàn bộ vòng đời. Vì vậy, cần chuyển từ quản lý hành chính và bảo toàn hiện vật sang quản trị theo giá trị, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý với hiệu quả KT-XH. Trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về đất đai, trụ sở, hạ tầng, quyền khai thác tài nguyên và vốn nhà nước tại DN, kết nối với dữ liệu ngân sách, đầu tư công và đăng ký doanh nghiệp. Tài sản phải được đánh giá định kỳ; tài sản dôi dư, sử dụng kém hiệu quả cần được điều chuyển, cho thuê, chuyển đổi công năng hoặc xử lý công khai, cạnh tranh. Nguồn thu một lần từ sắp xếp tài sản, chuyển nhượng quyền khai thác và thoái vốn cần ưu tiên cho đầu tư phát triển hoặc giảm nợ, không sử dụng để mở rộng chi thường xuyên dài hạn.

Đối với vốn nhà nước tại DN, cần xác định rõ mục tiêu sở hữu, phân định chức năng đại diện chủ sở hữu với quản lý nhà nước và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Hoạt động kinh doanh phải được đánh giá theo hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận sau điều chỉnh rủi ro, năng suất và năng lực đổi mới; nhiệm vụ công ích cần được đặt hàng theo chi phí, sản lượng và tiêu chuẩn chất lượng công khai, qua đó, hạn chế bù chéo, che giấu thua lỗ thương mại và duy trì vốn nhà nước tại các lĩnh vực kém hiệu quả. Việc bổ sung, duy trì hoặc thoái vốn phải dựa trên hiệu quả danh mục, vai trò chiến lược của Nhà nước và khả năng tham gia của khu vực tư nhân.

Đối với nguồn lực đất đai, trọng tâm chính sách cần chuyển từ khai thác nguồn thu một lần sang thu hồi hợp lý phần giá trị tăng thêm do quy hoạch và đầu tư hạ tầng công cộng tạo ra. Kinh nghiệm Hồng Kông, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ... cho thấy có thể thu hồi phần giá trị đất đai tăng thêm nhờ hạ tầng thông qua khai thác quyền phát triển đất quanh nhà ga, nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư và đóng góp của các đối tượng hưởng lợi. Việt Nam có thể nghiên cứu, xem xét kết hợp đấu giá quyền phát triển quỹ đất quanh các đầu mối giao thông với nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư và khoản đóng góp của các đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ hạ tầng.

Năm là, tích hợp chuyển đổi xanh, quản trị số và yêu cầu bao trùm.

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển bao trùm cần trở thành yêu cầu xuyên suốt của chính sách kinh tế - tài chính. Theo đó, cần tích hợp tiêu chí môi trường vào toàn bộ chu trình ngân sách và đầu tư công; hoàn thiện hệ thống phân loại xanh, gắn nhãn ngân sách khí hậu và cơ chế đánh giá tác động. Kinh nghiệm của EU cho thấy chính sách xanh không chỉ phải định hướng dòng vốn, hạn chế “xanh hóa” hình thức mà còn hỗ trợ đào tạo lại, tạo việc làm và đa dạng hóa sinh kế tại các khu vực chịu ảnh hưởng. Việt Nam cần vận dụng phù hợp với điều kiện trong nước, đồng thời dành một phần nguồn thu từ thuế, phí môi trường và thị trường carbon để hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp nhỏ và địa phương chịu chi phí chuyển đổi lớn.

Chuyển đổi số tài chính công cần dựa trên quản trị và kết nối có kiểm soát dữ liệu ngân sách, thuế, hải quan, kho bạc, đầu tư công, doanh nghiệp và đất đai. Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ dự báo, phân bổ nguồn lực và giám sát rủi ro, nhưng phải bảo đảm khả năng kiểm định, giải thích, lưu vết và giám sát của con người. Phân cấp tài chính cần đi đôi với chuẩn dữ liệu thống nhất, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình của từng cấp.

Tính bao trùm cần trở thành tiêu chí đánh giá chính sách. Chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo, kết nối việc làm và hỗ trợ DN nhỏ tham gia chuỗi giá trị phải được đo bằng việc làm bền vững, thu nhập và khả năng chuyển đổi nghề nghiệp. Chỉ khi chính sách xanh và số đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ, dịch vụ công và giảm chi phí điều chỉnh cho nhóm dễ tổn thương, quá trình đổi mới mô hình phát triển mới có thể tạo ra nền tảng xã hội ổn định và duy trì tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

KẾT LUẬN

Đổi mới mô hình phát triển đòi hỏi chuyển từ mở rộng đầu vào sang nâng năng suất, làm chủ công nghệ, phát triển DN trong nước và tăng khả năng chống chịu. Kết quả giai đoạn 2021-2025 và 7 tháng đầu năm 2026 tạo nền tảng thuận lợi nhưng những điểm nghẽn về hiệu quả vốn, chuỗi giá trị, cấu trúc tài chính, nhân lực và môi trường cho thấy mục tiêu mới không thể đạt được bằng công cụ và cách phân bổ cũ.

Giải pháp kinh tế - tài chính cần tạo 3 chuyển biến: từ ngân sách theo đầu vào sang quản trị theo kết quả; từ cấu trúc vốn thiên về tín dụng sang hệ sinh thái vốn dài hạn; từ ưu đãi phân tán sang hỗ trợ có mục tiêu, điều kiện và thời hạn. Nguồn lực công phải đóng vai trò vốn mồi, dẫn dắt vốn tư nhân; mọi hỗ trợ phải đi cùng kỷ luật tài khóa, dữ liệu minh bạch, quản trị rủi ro và cơ chế thoái lui. Khi mỗi chính sách xác định rõ mục tiêu, chi phí và kết quả, hệ thống kinh tế - tài chính mới thực sự trở thành động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, tự cường và bao trùm.

* Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài cấp nhà nước “Cải cách huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Mã số: KX.01.14/21-30 do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính chủ trì (thuộc Chương trình KX.01/21-30).

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
  2. Chính phủ (2026). Báo cáo số 149/BC-CP ngày 03/4/2026 về đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và dự kiến Kế hoạch 5 năm 2026-2030.
  3. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
  4. Cục Thống kê (2026b). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026.
  5. European Commission (2025). Proposal to increase the InvestEU guarantee. https://commission.europa.eu/document/ download/58f5e2e3-e2c9-4149-9fd6-648490c9e7fe_en
  6. European Commission (2026a). EU Taxonomy for sustainable activities. https://finance.ec.europa.eu/sustainable-finance/ tools-and-standards/eu-taxonomy-sustainable-activities_en
  7. European Commission. (2026b). The Just Transition Mechanism. https://commission.europa.eu/topics/regional-and-urban-policy/just-transition-mechanism_en
  8. OECD. (2025a). Government at a glance 2025: Spending reviews. OECD Publishing
  9. OECD. (2026a). Digital government outlook 2026. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/0496b2bc-en
  10. OECD. (2026b). Government support for business R&D approaches record highs as R&D tax incentives expand across the OECD.
  11. U.S. Small Business Administration. (2026). About SBIR and STTR. https://www.sbir.gov/about
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 9/2026

Tin tức khác

Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều

Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều

Ngành điều Việt Nam cần chuyển dịch sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ, mở rộng thị trường để nâng cao giá trị gia tăng và củng cố vị thế xuất khẩu.
Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực

Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực

Nghị quyết 20-NQ/TW thúc đẩy đổi mới quản trị, liên kết ngành, huy động nguồn lực và làm chủ công nghệ, đưa kinh tế biển thành động lực tăng trưởng quốc gia.
Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên

Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên

Chuỗi các hoạt động trong khuôn khổ Chương trình kỷ niệm 195 năm ngày Thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival Trà Quốc tế - Thái Nguyên năm 2026 cho thấy bước đột phá trong tư duy phát triển kinh tế.
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã

Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã

Chuyển sang kinh tế nông nghiệp đòi hỏi nâng cao năng lực hợp tác xã, tổ chức lại sản xuất, kết nối chuỗi giá trị và gia tăng sức cạnh tranh nông sản.
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD

Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD

Trong 9 tháng năm 2026, Singapore dẫn đầu vốn FDI đăng ký vào Việt Nam với gần 12,85 tỷ USD.
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tăng lên 52,3 trong tháng 10 từ mức 51,9 của tháng 9, cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất tiếp tục cải thiện nhẹ vào thời điểm đầu quý IV.
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm tới đòi hỏi huy động nguồn lực quy mô lớn. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Để chip bán dẫn do kỹ sư trong nước phát triển đi vào sản xuất thương mại, bài toán cấp thiết là tìm được khách hàng, tạo môi trường thử nghiệm và kết nối nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp.
Xem thêm
podcast tu nam 2027 luong huu tro cap bao hiem xa hoi se duoc chi tra the nao

PODCAST: Từ năm 2027, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được chi trả thế nào?

Từ năm 2027, phương thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ có thêm bước chuyển quan trọng khi Tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID được đưa vào sử dụng theo lộ trình. Đây là nội dung đáng chú ý trong Kế hoạch của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, về triển khai sử dụng Tài khoản hưởng an sinh xã hội trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. ------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
pocast dong tien chung khoan dang tim den nhung nhom nganh nao

POCAST: Dòng tiền chứng khoán đang tìm đến những nhóm ngành nào?

Sau 4 tuần giảm liên tiếp, VN-Index vừa có tuần tăng 4%, đóng cửa phiên ngày 23/10 ở 1.774 điểm. Thị trường chứng khoán đã hồi phục, nhưng câu hỏi nhiều nhà đầu tư vẫn đặt ra là: tiền đang chảy vào đâu? Câu trả lời không nằm hết ở chỉ số chung. Phía sau mỗi nhịp tăng, giảm là lựa chọn của dòng vốn, dựa trên lợi nhuận và câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp. --------------------------------- Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast tai khoa nam 2027 truoc yeu cau tang truong cao va bao dam an ninh tai chinh quoc gia

PODCAST: Tài khóa năm 2027 trước yêu cầu tăng trưởng cao và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Bộ Tài chính vừa công khai Báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 Chính phủ trình Quốc hội. Trong đó, định hướng điều hành tài chính - ngân sách tiếp tục tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video giai ngan von dau tu cong dat 64 6

VIDEO: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6%

Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 15/10/2026, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước trên toàn quốc đã đạt 660.739,5 tỷ đồng, tương đương 64,6% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tăng lên 52,3 trong tháng 10 từ mức 51,9 của tháng 9, cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất tiếp tục cải thiện nhẹ vào thời điểm đầu quý IV.
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm tới đòi hỏi huy động nguồn lực quy mô lớn. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường

Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường

Quy định số 224-QĐ/TW đánh dấu bước đổi mới quan trọng khi chuyển sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh hợp pháp.
Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thảo luận về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và đầu tư công tại hội trường Quốc hội vừa qua, các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên.
Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11

Thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%: Giá xăng giảm mạnh từ 0h ngày 1/11

Bộ Công Thương vừa có thông tin về điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng. Theo đó, giá xăng giảm mạnh đến hơn 1.800 đồng/lít từ 0h ngày 1/11/2026.
Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực

Bộ Tài chính: Quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông nguồn lực

Bộ Tài chính được giao nhiều nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến điều hành chính sách tài khóa, quản lý giá, đầu tư công, tài sản công, cơ cấu lại vốn nhà nước và hoàn thiện thể chế kinh tế.
Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao

Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long, TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao

Tâm điểm đầu tư tuần qua nổi bật với loạt thông tin Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Khu đô thị Bắc Thăng Long quy mô gần 100.000 tỷ đồng; TP. Hồ Chí Minh tìm nhà đầu tư cụm y tế công nghệ cao; Sun Group khởi công quần thể du lịch tại Quảng Trị...
Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả

Bài 3: Thống nhất thực thi, biến tầm nhìn thành kết quả

Tiếp nối thành công Đại hội XIV và các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, những quyết sách chiến lược từng bước được cụ thể hóa bằng hành động của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, tạo nên “dòng chảy thực thi” thống nhất, đồng bộ.
Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026

Giải ngân 100% vốn đầu tư công sẽ đóng góp khoảng 1,7% tăng trưởng kinh tế năm 2026

Chính phủ tập trung đẩy nhanh giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, đóng góp 2,5% vào tăng trưởng quý IV và 1,7% vào tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều

Chuyển dịch chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm điều

Ngành điều Việt Nam cần chuyển dịch sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ, mở rộng thị trường để nâng cao giá trị gia tăng và củng cố vị thế xuất khẩu.
Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực

Phát triển kinh tế biển Việt Nam: Đổi mới tư duy quản trị, khơi thông nguồn lực

Nghị quyết 20-NQ/TW thúc đẩy đổi mới quản trị, liên kết ngành, huy động nguồn lực và làm chủ công nghệ, đưa kinh tế biển thành động lực tăng trưởng quốc gia.
Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên

Động lực tăng trưởng mới - nhìn từ câu chuyện nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên

Chuỗi các hoạt động trong khuôn khổ Chương trình kỷ niệm 195 năm ngày Thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival Trà Quốc tế - Thái Nguyên năm 2026 cho thấy bước đột phá trong tư duy phát triển kinh tế.
Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã

Nâng cao năng lực tự tổ chức, quản trị và điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị của hợp tác xã

Chuyển sang kinh tế nông nghiệp đòi hỏi nâng cao năng lực hợp tác xã, tổ chức lại sản xuất, kết nối chuỗi giá trị và gia tăng sức cạnh tranh nông sản.
Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD

Singapore gia tăng hiện diện, vốn FDI lũy kế chính thức vượt mốc 100 tỷ USD

Trong 9 tháng năm 2026, Singapore dẫn đầu vốn FDI đăng ký vào Việt Nam với gần 12,85 tỷ USD.
PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tăng lên 52,3 trong tháng 10 từ mức 51,9 của tháng 9, cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất tiếp tục cải thiện nhẹ vào thời điểm đầu quý IV.
Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Bài 1: Đánh thức “kho” nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm tới đòi hỏi huy động nguồn lực quy mô lớn. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Để chip bán dẫn do kỹ sư trong nước phát triển đi vào sản xuất thương mại, bài toán cấp thiết là tìm được khách hàng, tạo môi trường thử nghiệm và kết nối nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp.
Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường

Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng, tư duy mới mở đường

Quy định số 224-QĐ/TW đánh dấu bước đổi mới quan trọng khi chuyển sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh hợp pháp.