Xây dựng thị trường khí cạnh tranh minh bạch để chuyển đổi năng lượng xanh hiệu quả
Đây là nhận định của các chuyên gia tại hội thảo khoa học "Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp - Hướng tới sản xuất xanh và Net Zero 2050" do Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam (VCEA) vừa tổ chức.
Nhu cầu khí ngày càng tăng trong quá trình chuyển dịch năng lượng
Thông tin tại Hội thảo, ông Nguyễn Khắc Quyền - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) cho biết, khí tự nhiên có nhu cầu lớn trong sản xuất điện và một số ngành công nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng theo hướng sản xuất xanh thì nhu cầu sử dụng khí tự nhiên càng tăng cao. Theo Dự thảo Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tổng tiêu thụ khí trong giai đoạn 2021 - 2024 dao động trong khoảng 1.900 - 2.100 KTOE (nghìn tấn dầu quy đổi tương đương).
![]() |
| Hội thảo khoa học Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp - Hướng tới sản xuất xanh và Net Zero 2050. |
Trong thời gian qua, khí tự nhiên đã khẳng định vị thế là một trong những nguồn năng lượng trụ cột của hệ thống năng lượng quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ phát triển công nghiệp và góp phần giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với các loại nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Việc khai thác và sử dụng hiệu quả khí tự nhiên đã thúc đẩy hình thành và phát triển các trung tâm công nghiệp năng lượng quy mô lớn, đặc biệt là các tổ hợp điện - đạm - hóa chất, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, gia tăng giá trị và tính liên kết trong chuỗi công nghiệp năng lượng trên cả nước.
Theo phân tích của ông Quyền, xét về cơ cấu sử dụng, lĩnh vực điện lực là nhóm tiêu thụ khí tự nhiên lớn nhất, chiếm khoảng 65 - 70% tổng sản lượng khí thương phẩm hàng năm. Báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam, Tổng công ty Khí Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho thấy, phần lớn sản lượng khí khai thác tại các bể Nam Côn Sơn, Cửu Long và Mã Lai - Thổ Chu được ưu tiên cấp cho các trung tâm điện khí. Phần còn lại khoảng 30 - 35% được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất phân bón, hóa chất và một số ngành công nghiệp chế biến.
Theo PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam, các nhà máy điện khí có khả năng vận hành linh hoạt, cho phép điều chỉnh công suất nhanh khi điện gió, điện mặt trời gián đoạn. Đây là yếu tố then chốt để tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống điện. Do đó, trong tương lai các nhà máy điện khí LNG hoàn toàn có thể chuyển sang đốt kèm hydrogen xanh hoặc amoniac xanh, hướng tới phát thải ròng bằng 0.
Vẫn còn nhiều điểm "nghẽn" trong phát triển ngành khí
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, nguồn cung khí nội địa đang đối mặt với xu hướng suy giảm rõ rệt. Việt Nam hiện khai thác khí tại 26 mỏ dầu – khí, với sản lượng đạt đỉnh trong giai đoạn 2010–2015 nhưng giảm mạnh từ sau năm 2016. Giai đoạn 2021–2025, sản lượng khai thác chỉ còn khoảng 5,95 – 8,08 tỷ m³/năm. Trước thực trạng đó, Việt Nam đã từng bước mở rộng nhập khẩu LNG. Tuy nhiên, tính đến tháng 1/2026, hợp đồng LNG dài hạn đầu tiên mới được ký kết giữa Tập đoàn PV Gas và Shell cho giai đoạn 2027–2031, tạm thời tạo nền tảng ổn định hơn cho nguồn cung khí tự nhiên của Việt Nam trong trung và dài hạn.
![]() |
| Ông Nguyễn Khắc Quyền – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương phát biểu tại Hội thảo. |
Như vậy, do sự suy giảm nguồn khí nội địa đã dẫn tới việc phụ thuộc ngày càng lớn vào LNG nhập khẩu. Đây được coi là thách thức lớn nhất của ngành khí Việt Nam cũng như việc giải được bài toán về an ninh năng lượng và biến động giá quốc tế.
Bên cạnh đó, sự phát triển thiếu đồng bộ giữa hạ tầng cung cấp khí và LNG trong khi cơ chế chính sách chưa theo kịp yêu cầu hình thành và phát triển thị trường khí cạnh tranh, minh bạch cũng là một khó khăn lớn đối với ngành khí. Theo ông Quyền điểm nghẽn này nếu không được tháo gỡ triệt để sẽ cản trở quá trình mở rộng ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp, từ đó tác động tới chiến lược an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn tới.
Hoàn thiện khung thể chế, sớm có thị trường khí cạnh tranh
Để tháo gỡ vướng mắc này, các chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh hoàn thiện khung thể chế, chính sách cho phát triển và sử dụng khí tự nhiên trong công nghiệp. Rà soát, điều chỉnh và thống nhất các quy định pháp luật liên quan đến toàn bộ chuỗi công nghiệp khí từ thăm dò, khai thác, thu gom, vận chuyển, chế biến, dự trữ đến phân phối và nhập khẩu LNG. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế giá khí, giá điện khí LNG theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, có lộ trình ổn định trung và dài hạn, tạo cơ sở cho doanh nghiệp công nghiệp chủ động xây dựng phương án đầu tư, chuyển đổi nhiên liệu và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Cùng với đó cần phát triển hạ tầng khí theo hướng đồng bộ, tập trung, nhưng đảm bảo linh hoạt và có khả năng tích hợp giữa nguồn khí khai thác trong nước với khí LNG nhập khẩu nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và có chi phí hợp lý cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng. Ngoài ra, cần sớm xây dựng và vận hành thị trường khí cạnh tranh, minh bạch, tăng cường thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các đối tác quốc tế có năng lực trong lĩnh vực khai thác, nhập khẩu, chế biến và sử dụng khí tự nhiên, LNG.
Nhấn mạnh tầm quan trọng vấn đề kết nối hạ tầng khí với các khu công nghiệp và khu kinh tế, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng kết nối hạ tầng khí với khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện then chốt cho công nghiệp xanh. Do đó cần hướng tiếp cận tổng thể - dài hạn – đồng bộ, cần xác định khí và LNG không chỉ là nguyên liệu mà còn là nền tảng phát triển công nghiệp bền vững. Theo đó cần đưa hạ tầng khí vào hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp; áp dụng cơ chế đầu tư PPP cho đường ống nhánh; có ưu đãi đầu tư về thuế, đất đai, giá dịch vụ hạ tầng; cùng với đó là hợp đồng mua khí dài hạn cho khách hàng công nghiệp…
Tin tức khác
“Đường băng” cho khu công nghiệp thế hệ mới cất cánh
Đưa năng suất lao động lên 9% để tạo lực cho tăng trưởng 2 con số
Công bố 499 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026
Bán lẻ tăng tốc, tiêu dùng giữ nhịp: Điểm tựa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khởi công 2 cây cầu lớn kết nối TP. Hồ Chí Minh với TP. Đồng Nai
Lâm Đồng: Sớm trình Thủ tướng xem xét điều chỉnh quy hoạch 14 dự án
Khu thương mại tự do sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế địa phương
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
Phát triển thông tin cơ sở thành hạ tầng số chiến lược của quốc gia
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm xã hội: Mở rộng bao phủ, bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động
TP. Hà Nội: Khởi công Dự án đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên
Điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm logistics quốc tế
Giá điện theo giờ sẽ áp dụng theo lộ trình, hạn chế ảnh hưởng đến người dân
"Làm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển"
Đổi mới tư duy phát triển hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Những xu hướng đáng chú ý trong tăng trưởng kinh tế thế giới và tác động đến thu hút FDI
Bảo đảm khung pháp lý đồng bộ khi Luật Dầu khí có hiệu lực
Đón dòng vốn lớn, lợi nhuận doanh nghiệp khu công nghiệp tăng trưởng 2 con số
“Đường băng” cho khu công nghiệp thế hệ mới cất cánh
Đưa năng suất lao động lên 9% để tạo lực cho tăng trưởng 2 con số
Công bố 499 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026
Bán lẻ tăng tốc, tiêu dùng giữ nhịp: Điểm tựa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khởi công 2 cây cầu lớn kết nối TP. Hồ Chí Minh với TP. Đồng Nai
Lâm Đồng: Sớm trình Thủ tướng xem xét điều chỉnh quy hoạch 14 dự án
Khu thương mại tự do sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế địa phương










