Thống nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Gỡ chồng chéo, nâng hiệu quả ngân sách
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình của Chính phủ. Ảnh: VPQH |
Tích hợp thực chất, không cộng gộp cơ học
Sáng ngày 14/8, tại phiên họp thứ 5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về giải pháp thống nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia.
Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc thống nhất nhằm tổ chức lại cấu trúc nội dung và thay đổi phương thức quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia. Qua đó, khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải, thu gọn đầu mối quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách, đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ đã được Quốc hội quyết nghị.
Theo Chính phủ, việc xây dựng giải pháp được thực hiện trên quan điểm thống nhất về nội dung, nhưng không cộng gộp cơ học, giữ nguyên và hoàn thành đầy đủ mục tiêu của 4 chương trình. Nội dung được tổ chức lại theo các nhóm vấn đề, có cơ chế chuyển tiếp để không làm gián đoạn nhiệm vụ.
Giải pháp thống nhất cũng được rà soát, phân loại theo mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực và sản phẩm đầu ra; không sử dụng kinh phí chương trình cho nhiệm vụ thường niên của bộ máy hành chính nhà nước.
Cùng với đó là giảm đầu mối quản lý, văn bản hướng dẫn, tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển, tiết kiệm chi thường xuyên và đẩy mạnh phân cấp cho địa phương theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Theo phương án Chính phủ trình, sẽ xây dựng 1 chương trình mục tiêu quốc gia tổng thể trên cơ sở thống nhất 4 chương trình về phát triển văn hóa; giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển. Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 tiếp tục thực hiện riêng do có tính chất đặc thù về an ninh, an toàn xã hội.
Một trong những thay đổi đáng chú ý là thu gọn đầu mối quản lý, phân công rõ cơ quan điều phối chung, cơ quan quản lý mục tiêu ngành, lĩnh vực và cơ quan tổng hợp về nguồn lực. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan điều phối chung, 5 bộ, ngành là cơ quan quản lý mục tiêu ngành lĩnh vực, Bộ Tài chính là cơ quan tổng hợp về nguồn lực.
Phương pháp phân bổ nguồn lực cũng được đề xuất chuyển từ “theo nhu cầu đăng ký” sang “theo năng lực và điều kiện sẵn sàng thực hiện”; đồng thời bỏ đầu mối trung gian trong phân bổ nguồn lực.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Chính phủ dự kiến ban hành 1 nghị quyết thống nhất khung nội dung, cơ chế, chính sách, tiêu chí, định mức và phân cấp mạnh cho địa phương, thay thế hơn 70 văn bản của 4 chương trình hiện nay.
Chương trình mới được đề xuất với tên gọi “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035”. Mục tiêu, phạm vi, đối tượng và thời gian thực hiện tiếp tục theo các nghị quyết của Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình.
Về kết cấu, chương trình được tổ chức thành 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: hạ tầng thiết yếu và bảo vệ môi trường; kinh tế nông thôn, sinh kế, việc làm; giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe, dân số; bảo tồn, phát triển văn hóa; chính sách đặc thù vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với cơ sở dữ liệu dùng chung, đánh giá, giám sát.
Về nguồn lực, Chính phủ đề xuất tổng nguồn lực thực hiện giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 345.000 tỷ đồng, với cơ cấu phấn đấu định hướng khoảng 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên.
Theo đó, Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết nghị thống nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia đã được phê duyệt tại Nghị quyết số 162/2024/QH15, Nghị quyết số 249/2025/QH15, Nghị quyết số 257/2025/QH15 và Nghị quyết số 262/2025/QH15 thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
Đồng thời, giao Chính phủ quyết định cơ cấu các nguồn vốn trong tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng đã được Quốc hội quyết nghị, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên cân đối, bổ sung nguồn lực theo tiến độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ. Chính phủ ban hành 1 nghị quyết quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình theo hướng đơn giản hóa thủ tục, phân cấp mạnh cho địa phương và xử lý đầy đủ các vấn đề chuyển tiếp.
Bảo đảm chuyển tiếp, không tạo khoảng trống pháp lý
Thẩm tra nội dung này, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn cho biết, Thường trực Hội đồng Dân tộc nhất trí sự cần thiết tích hợp 4 chương trình nhằm thu gọn đầu mối, khắc phục giao thoa và đẩy nhanh phân bổ, giải ngân.
Theo Thường trực Hội đồng Dân tộc, cần quán triệt đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, đó là hình thành một chương trình tổng thể trên cơ sở tích hợp thực chất, chứ không chỉ gộp đầu mối hoặc đặt 4 chương trình vào một “vỏ” chung. Đồng thời, việc tích hợp không được làm giảm mục tiêu, quyền lợi và mức độ ưu tiên đối với từng lĩnh vực, địa bàn, nhóm đối tượng, nhất là các chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một vấn đề được cơ quan thẩm tra lưu ý là cần phân biệt rõ trùng lặp với giao thoa. Việc một địa bàn hoặc một hộ gia đình cùng được hưởng chính sách về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa chưa đồng nghĩa với trùng lặp nếu các chính sách đáp ứng những nhu cầu khác nhau. Chỉ nên tích hợp, loại bỏ khi trùng cả về mục tiêu, đối tượng và nội dung hỗ trợ.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị có bảng tổng hợp để theo dõi riêng mục tiêu, cơ chế đặc thù, nguồn lực và kết quả thụ hưởng.
![]() |
| Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn báo cáo thẩm tra. Ảnh: VPQH |
Về nguồn lực, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Chính phủ thuyết minh rõ cơ sở xác định tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng, đồng thời lượng hóa phần tiết kiệm do giảm đầu mối. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị có phương án xử lý 17.241,8 tỷ đồng vốn kéo dài sang năm 2026, đến ngày 31/7/2026 mới giải ngân khoảng 23%.
Thường trực Hội đồng Dân tộc tán thành định hướng giảm chi quản lý, tăng nguồn lực đầu tư. Cùng với đó, cần tiếp tục ưu tiên ở mức cao nhất cho các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, an toàn khu, biên giới, hải đảo. Đối với địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương trên 70%, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị mức vốn đối ứng không quá 10%.
Một nội dung quan trọng khác được cơ quan thẩm tra nhấn mạnh là cơ chế chuyển tiếp. Nghị quyết mới cần quy định rõ việc xử lý đối với nhiệm vụ, dự án, hợp đồng, kế hoạch, dự toán, vốn kéo dài, kinh phí chưa giải ngân và các đối tượng đã được phê duyệt. Mục tiêu là bảo đảm nhiệm vụ năm 2026 và công tác lập kế hoạch năm 2027 được thực hiện liên tục, không phát sinh thủ tục phê duyệt lại không cần thiết, không tạo khoảng trống pháp lý và không làm gián đoạn quyền lợi của người thụ hưởng.
Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, thống nhất xây dựng 1 chương trình mục tiêu quốc gia tổng thể trên cơ sở tích hợp thực chất 4 chương trình.
Nghị quyết mới cần thay thế, bãi bỏ Nghị quyết số 162/2024/QH15, Nghị quyết số 249/2025/QH15, Nghị quyết số 257/2025/QH15 và Nghị quyết số 262/2025/QH15, đồng thời quy định đầy đủ các nội dung chủ yếu của chủ trương đầu tư, bảo đảm không thu hẹp quyền lợi và mức ưu tiên của từng lĩnh vực, địa bàn, nhóm đối tượng.
Thường trực Hội đồng Dân tộc cũng đề nghị Chính phủ tích hợp mục tiêu, nguồn vốn, phân kỳ đầu tư, sắp xếp lại dự án và báo cáo, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thực hiện từ kế hoạch năm 2027 theo 1 chương trình tổng thể, nhưng không làm gián đoạn quyền lợi của đối tượng thụ hưởng.
Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất phương án tích hợp 4 chương trình hiện nay, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phải được hoàn thiện đầy đủ các nội dung về tên chương trình, mục tiêu, phạm vi, tổng vốn đầu tư, địa điểm và thời gian thực hiện. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội để hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm cả tiến độ và chất lượng, trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Tin tức khác
Thúc đẩy nguồn vốn Nhật Bản vào năng lượng và công nghệ tại Việt Nam
Các sự kiện nổi bật của ngành Tài chính tháng 9/2026
Sửa Luật Đầu tư: Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ, mở gói hỗ trợ vượt trội cho dự án lan tỏa
Sửa Luật Đấu thầu: Thêm hành vi bị cấm, xây dựng cơ sở dữ liệu giá để ngăn nâng khống giá gói thầu
Rà từng dự án, chỉ rõ vướng mắc, tăng tốc giải ngân giao thông trọng điểm
Gỡ vướng để tăng tốc giải ngân các dự án giao thông trọng điểm
Tăng kiểm soát rủi ro, bảo đảm an ninh mạng cho cơ chế thử nghiệm trên thị trường chứng khoán
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Bổ sung cơ chế bảo vệ người dân khi thu hồi đất trước bồi thường, tái định cư
Nội dung trình Quốc hội phải “chín” về chính trị, vững về pháp lý, khả thi về thực tiễn
Giao chỉ tiêu gần 900.000 căn nhà ở xã hội, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng lên gần 73.000 ha, hướng tới cực tăng trưởng của Bắc Trung Bộ
Lâm Đồng: Kinh tế đêm chưa được khai thác hiệu quả
Hà Nội đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tạo động lực bứt phá tăng trưởng
Mở rộng không gian biển, tạo động lực tăng trưởng kinh tế hướng ra biển
Thị trường nội địa - động lực mới của ngành gỗ Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh vào chặng “nước rút” tăng trưởng 2 con số
Hà Nội: GRDP quý III tăng 10,02%, lần đầu chạm ngưỡng 2 con số
Bảo vệ sở hữu trí tuệ, củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế số









