Quy định mới về phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất theo Thông tư số 43/2026/TT-BTC: Một số hàm ý quản trị
ThS.Phan Hoàng Nhật
Chương trình đào tạo Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: nhatph@tdmu.edu.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, khi các tập đoàn kinh tế ngày càng lớn mạnh để có thể cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế, báo cáo tài chính hợp nhất (BCTCHN) đã trở thành phương tiện cung cấp thông tin chủ đạo cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư. Đối với các tập đoàn kinh tế có cấu trúc sở hữu đa tầng và sở hữu chéo, BCTCHN đóng vai trò quan trọng trong trình bày tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền của toàn bộ tập đoàn như một thực thể thống nhất. Thông qua việc loại trừ các giao dịch nội bộ và các khoản sở hữu chéo, báo cáo này đưa ra một cái nhìn tổng thể, phản ánh trung thực tình hình tài chính, kinh doanh của tập đoàn thay vì chỉ dựa trên tình hình tài chính riêng lẻ của từng công ty thành viên.
Sau 12 năm kể từ khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn phương pháp lập và trình bày BCTCHN đến nay, có thể khẳng định, Thông tư này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc lập BCTCHN tại Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự ra đời của Luật Kế toán năm 2015 và nhất là Luật số 56/2024/QH15: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, một số quy định tại Thông tư số 202/2014/TT-BTC đã không còn phù hợp, cũng như chưa tương thích với thực tiễn số hóa và yêu cầu khắt khe về tính kịp thời của thị trường chứng khoán.
Trong bối cảnh đó, Thông tư số 43/2026/TT-BTC được ban hành không chỉ là sự cập nhật về mặt kỹ thuật, mà còn là bước đi chiến lược nhằm hội tụ gần hơn với các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Thông tư đưa ra những điều chỉnh quan trọng về thời hạn công bố, phương thức chia sẻ dữ liệu và các chỉ tiêu tài chính đặc thù và các nội dung mới khác phù hợp với tình hình hiện nay.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những điểm mới của Thông tư số 43/2026/TT-BTC và đánh giá tác động của nó đến tính minh bạch thông tin của các tập đoàn kinh tế khi áp dụng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm chủ động thích ứng và nâng cao uy tín trên thị trường vốn là cấp thiết.
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ SỐ 43/2026/TT-BTC
Sau 12 năm định hình công tác kế toán hợp nhất tại Việt Nam, đến nay, Thông tư số 202/2014/TT-BTC đã bộc lộ một số hạn chế nhất định trước sự vận động phức tạp của các mô hình kinh doanh hiện đại. Sự ra đời của Thông tư số 43/2026/TT-BTC không chỉ đơn thuần cập nhật về mặt kỹ thuật, mà là một nỗ lực toàn diện nhằm tái cấu trúc tư duy lập BCTCHN. Việc phân tích những điểm mới của Thông tư số 43/2026/TT-BTC sẽ làm rõ sự chuyển dịch từ việc tuân thủ các quy tắc hình thức sang việc ưu tiên phản ánh bản chất kinh tế, đồng thời cho thấy bước tiến của kế toán Việt Nam trong lộ trình hội tụ với IFRS.
Sự chuyển dịch trong khung pháp lý và đối tượng áp dụng
Sự tương thích với Luật số 56/2024/QH15 và yêu cầu đồng bộ hóa hệ thống pháp luật
Sự ra đời của Thông tư số 43/2026/TT-BTC là kết quả tất yếu của quá trình đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật kế toán Việt Nam sau khi Luật số 56/2024/QH15 được ban hành. Nếu Thông tư số 202/2014/TT-BTC trước đây căn cứ vào Luật Kế toán năm 2003, thì Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã cập nhật căn cứ pháp lý theo Luật Kế toán năm 2015 và các nội dung sửa đổi mới nhất tại Luật số 56/2024/ QH15. Mối liên hệ này thể hiện rõ nét qua việc chuẩn hóa quy định về nộp báo cáo.
Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã cụ thể hóa các yêu cầu của Luật Chứng khoán và Luật số 56/2024/ QH15 bằng cách quy định thời hạn nộp BCTCHN năm chậm nhất là 90 ngày; đồng thời, mở ra cơ chế linh hoạt trong trường hợp pháp luật ở các lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm... có quy định khác về thời hạn và hình thức công khai, thì thực hiện theo pháp luật của lĩnh vực đó. Điều này giải quyết triệt để sự chồng chéo pháp lý giữa quy định kế toán thuần túy và quy định quản lý thị trường vốn, tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất cho các tập đoàn nhất là các tập đoàn hoạt động ở các lĩnh vực đặc thù.
Mở rộng và làm rõ đối tượng áp dụng đối với các tập đoàn đa ngành
So với Thông tư số 202/2014/TT-BTC, Thông tư số 43/2026/TT-BTC làm rõ hơn đối tượng áp dụng đối với các tập đoàn kinh tế có cấu trúc sở hữu đa tầng. Thông tư số 43/2026/TT-BTC quy định đối tượng áp dụng bao gồm: Các công ty mẹ và các đơn vị thành viên trong tập đoàn kinh tế thuộc các thành phần kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh các tập đoàn đa ngành có sự đan xen giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động tài chính đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán), Thông tư số 43/2026/TT-BTC cung cấp hướng dẫn để các đơn vị này lập BCTCHN phù hợp với đặc điểm quản lý. Việc bổ sung quy định về cung cấp và chia sẻ thông tin qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp cho thấy, đối tượng áp dụng không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp độc lập, mà hướng tới quản lý các tập đoàn như một thực thể kinh tế tổng hợp trong hệ sinh thái dữ liệu quốc gia.
Định hướng hội nhập và sự tiệm cận với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Thông tư số 43/2026/TT-BTC là văn bản quan trọng trong lộ trình áp dụng IFRS. Sự tiệm cận này thể hiện qua việc bổ sung, chuẩn hóa các chỉ tiêu trên biểu mẫu BCTCHN vốn là đặc trưng của IFRS 10. Các chỉ tiêu “Lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ” (Mã số 61) và “Lợi nhuận sau thuế của cổ đông không kiểm soát” (Mã số 62) trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất được đề cập trong Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã được hoàn thiện và chuẩn hóa so với trong Thông tư số 202/2014/ TT-BTC. Điều này thay đổi tư duy từ việc chỉ tập trung vào tổng lợi nhuận tập đoàn sang việc phân tách lợi ích giữa các bên sở hữu - một trong những yêu cầu cốt lõi của IFRS.
Bên cạnh đó, Thông tư số 43/2026/TT-BTC quy định chi tiết hơn về tỷ giá quy đổi khi lập báo cáo tài chính của các đơn vị sử dụng ngoại tệ. Trong lĩnh vực kế toán hợp nhất, việc quy đổi báo cáo tài chính của các đơn vị thành viên sử dụng ngoại tệ vốn là một kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi khung pháp lý chi tiết để phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung quan trọng so với Thông tư số 202/2014/TT-BTC theo hướng tối ưu hóa quy trình hạch toán và tiệm cận sâu hơn với Chuẩn mực kế toán quốc tế số 21 (IAS 21 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái).
Những quy định mới về tỷ giá quy đổi trong Thông tư số 43/2026/TT-BTC không chỉ đơn thuần là việc thay đổi con số áp dụng, mà là sự chuyển đổi sang tư duy quản trị rủi ro tỷ giá hối đoái theo chuẩn mực quốc tế giúp BCTCHN phản ánh chính xác tình hình tài chính của tập đoàn mà không bị nhiễu bởi các yếu tố kỹ thuật hạch toán tỷ giá hối đoái.
Tăng cường áp dụng nguyên tắc “Bản chất hơn hình thức” trong lập báo cáo tài chính hợp nhất
Nguyên tắc “Bản chất hơn hình thức” được Thông tư số 43/2026/TT-BTC củng cố mạnh mẽ nhằm ngăn chặn tình trạng che giấu các thông tin ngoài bảng cân đối kế toán. Trong khi Thông tư số 202/2014/TT-BTC tập trung nhiều vào tỷ lệ quyền biểu quyết trực tiếp và gián tiếp, Thông tư số 43/2026/TT-BTC nhấn mạnh vào khả năng chi phối các chính sách tài chính và hoạt động để thu được lợi ích kinh tế.
Ngoài ra, nguyên tắc “bản chất hơn hình thức” còn thể hiện ở việc hướng dẫn xử lý các khoản đầu tư vào công ty liên kết khi nhà đầu tư có cam kết gánh lỗ hoặc trả nợ thay. Việc yêu cầu ghi nhận các khoản lỗ vượt quá giá trị ghi sổ của khoản đầu tư khi có nghĩa vụ liên đới đã ngăn chặn việc các tập đoàn lợi dụng mô hình liên doanh, liên kết để chuyển các rủi ro tài chính ra khỏi báo cáo hợp nhất. Điều này giúp phản ánh trung thực nghĩa vụ nợ tiềm ẩn, từ đó nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính đối với các nhà đầu tư trên thị trường.
Thêm vào đó, việc loại trừ hoàn toàn lợi nhuận chưa thực hiện trong các giao dịch nội bộ theo Thông tư số 43/2026/TT-BTC là minh chứng điển hình cho nguyên tắc “bản chất hơn hình thức”. Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã kế thừa nguyên tắc này từ Thông tư số 202/2014/TT-BTC, đồng thời chuẩn hóa quy trình bằng cách bổ sung ngoại lệ đối với chênh lệch tỷ giá theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 (VAS 10). Sự điều chỉnh này giúp phản ánh chính xác hơn tác động của các yếu tố kinh tế khách quan như biến động tỷ giá thị trường thay vì loại trừ một cách cơ học. Việc bóc tách triệt để các khoản doanh thu và chi phí nội bộ giúp ngăn chặn hành vi làm đẹp báo cáo tài chính thông qua việc “thổi phồng” doanh số hoặc dịch chuyển lợi nhuận “ảo” giữa các thành viên trong cùng tập đoàn, từ đó đảm bảo thông tin tài chính phản ánh đúng giá trị thặng dư thực tế phát sinh từ thị trường.
Cải cách về quy trình công bố và kỳ báo cáo
Bổ sung quy định báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ: Tính pháp lý và sự thống nhất
Trong Thông tư số 202/2014/TT-BTC, các hướng dẫn chủ yếu tập trung vào BCTCHN năm, gây ra sự thiếu vắng khung pháp lý chính thức cho các kỳ báo cáo ngắn hơn (giữa niên độ, bán niên). Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã khắc phục lỗ hổng này bằng việc bổ sung khoản 2, Điều 1 (Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 202/2014/TT-BTC), xác lập tính pháp lý cho BCTCHN giữa niên độ.
Việc luật hóa báo cáo giữa niên độ đảm bảo rằng các nguyên tắc hợp nhất phải được áp dụng thống nhất xuyên suốt các kỳ kế toán trong năm. Điều này ngăn chặn sự đứt gãy thông tin và đảm bảo rằng, dữ liệu quý hoặc bán niên của các tập đoàn có độ tin cậy tương đương với báo cáo năm, đáp ứng yêu cầu khắt khe về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Sự linh hoạt và tính thống nhất về thời hạn công bố theo pháp luật các lĩnh vực đăc thù
Một cải cách quan trọng khác nêu tại khoản 2, Điều 1 Thông tư số 43/2026/TT-BTC là việc xác lập nguyên tắc ưu tiên các quy định của các lĩnh vực đặc thù trong việc công khai BCTCHN. Thay vì áp dụng một thời hạn nộp báo cáo duy nhất cho mọi đối tượng, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã đưa ra cơ chế linh hoạt nhằm tương thích với các quy định pháp lý của các lĩnh vực đặc thù như tài chính, bảo hiểm, chứng khoán sẽ được áp dụng theo các quy định của các lĩnh vực đó. Quy định này cho phép các công ty đại chúng hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù kể trên tuân thủ các mốc thời gian báo cáo mà không vi phạm quy định về kế toán. Đây là sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với tính đa dạng của các thực thể kinh tế, giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực tuân thủ trùng lắp nhưng vẫn đảm bảo tính kịp thời của việc công bố thông tin.
Cơ chế chia sẻ dữ liệu qua Hệ thống thông tin quốc gia
Một trong những bước tiến mang tính đột phá của Thông tư số 43/2026/TT-BTC trong việc hiện đại hóa công tác quản lý thông tin tài chính là việc chính thức hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu thông qua Hệ thống thông tin quốc gia. Theo quy định tại khoản 3, Điều 1 của Thông tư số 43/2026/TT-BTC, BCTCHN sau khi nộp và lưu giữ tại Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sẽ trở thành nguồn dữ liệu dùng chung, để cung cấp và chia sẻ cho các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định.
Sự bổ sung này thể hiện sự thay đổi tư duy quản lý từ việc lưu trữ khép kín sang kết nối và chia sẻ thông tin - một xu hướng tất yếu trong thời đại 4.0. So với Thông tư số 202/2014/TT-BTC vốn chỉ tập trung vào nghĩa vụ nộp báo cáo đơn thuần của doanh nghiệp, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã tích hợp quy trình báo cáo vào hệ sinh thái Chính phủ số. Cơ chế này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng hành chính cho các tập đoàn khi không phải nộp cùng một loại báo cáo cho nhiều cơ quan khác nhau, mà còn tăng cường tính minh bạch và giám sát của xã hội. Việc dữ liệu được tập trung và chia sẻ một cách hệ thống giúp các nhà đầu tư và cơ quan quản lý tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác, từ đó giảm thiểu rủi ro thông tin và củng cố niềm tin vào tính trung thực của báo cáo tài chính trên thị trường.
Hoàn thiện kỹ thuật hợp nhất và trình bày chỉ tiêu
Tách bạch và làm rõ ý nghĩa của các chỉ tiêu mới trên Báo cáo tình hình tài chính hợp nhất và Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã có những điều chỉnh quan trọng trong hệ thống biểu mẫu báo cáo nhằm tăng cường tính chi tiết, minh bạch. So với Thông tư số 202/2014/TT-BTC, điểm mới nổi bật của Thông tư số 43/2026/TT-BTC là việc chuẩn hóa tên gọi các báo cáo và các chỉ tiêu liên quan đến lợi ích của cổ đông không kiểm soát và các khoản mục phát sinh từ quá trình hợp nhất.
Thứ nhất, tên gọi “bảng cân đối kế toán hợp nhất” chính thức được thay đổi thành “báo cáo tình hình tài chính” để phù hợp về mặt tên gọi với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, trên báo cáo tình hình tài chính hợp nhất, chỉ tiêu “lợi thế thương mại” đã được thay đổi từ mã số 269 thành 279, cũng như có sự định nghĩa lại chỉ tiêu này. Nếu Thông tư số 202/2014/TT-BTC sử dụng cụm từ “phát sinh” thì Thông tư số 43/2026/TT-BTC sử dụng cụm từ “giá trị còn lại”, “tại thời điểm báo cáo”. Điều này làm rõ con số trên báo cáo đã bao gồm việc trừ đi phần phân bổ hoặc tổn thất lũy kế, phản ánh thực chất nhất giá trị tài sản hiện có của tập đoàn.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu “Lợi ích cổ đông không kiểm soát - NCI” được giữ nguyên mã số 429 nhưng Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã có sự bổ sung thêm cụm từ “lũy kế đến thời điểm báo cáo”. Sự bổ sung này nhấn mạnh rằng, giá trị của cổ đông không kiểm soát không phải là một con số tĩnh tại thời điểm đầu tư ban đầu, mà là một giá trị biến động liên tục, bao gồm phần lợi ích của họ trong lợi nhuận/lỗ sau thuế và các thay đổi khác trong vốn chủ sở hữu của công ty con cộng dồn từ ngày hợp nhất đến hiện tại.
Thứ ba, trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất, chỉ tiêu “phần lãi hoặc lỗ trong công ty liên doanh, liên kết” đã được thay đổi từ mã số 24 thành mã số 27. Việc thay đổi mã số này cho thấy sự sắp xếp lại hệ thống chỉ tiêu trong biểu mẫu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất để phù hợp với các cập nhật mới về cấu trúc báo cáo.
Ngoài ra, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã có sự chuẩn hóa tên gọi chỉ tiêu lợi nhuận của công ty mẹ. Nếu Thông tư số 202/2014/TT-BTC gọi là “Lợi nhuận sau thuế của cổ đông của công ty mẹ” (Mã số 61) thì tại Thông tư số 43/2026/TT-BTC điều chỉnh thành “Lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ” (Mã số 61). Tuy tên gọi ngắn gọn hơn nhưng phần diễn giải nội dung của Thông tư số 43/2026/TT-BTC vẫn khẳng định đây là phần lợi nhuận thuộc về “cổ đông công ty mẹ”.
Việc lược bỏ cụm từ “cổ đông của” giúp tên chỉ tiêu trên báo cáo trở nên súc tích, tiệm cận hơn với cách trình bày của các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu kể trên Thông tư số 43/2026/TT-BTC đều bổ sung hoặc chuẩn hóa cụm từ “trong kỳ báo cáo”, thay vì chỉ ghi chung chung là “trong kỳ” như Thông tư số 202/2014/TT-BTC. Việc này giúp xác định rõ phạm vi thời gian mà số liệu phản ánh, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Thông tư số 43/2026/ TT-BTC đã bổ sung các quy định về BCTCHN giữa niên độ (quý, bán niên) như đã đề cập ở các mục trước. Điều này đảm bảo tính chính xác tuyệt đối về mặt thời điểm của dữ liệu tài chính.
Điều chỉnh phương pháp kế toán đối với chênh lệch tỷ giá và lợi thế thương mại trong các giao dịch tái cấu trúc
Thông tư số 43/2026/TT-BTC có những thay đổi đáng kể nhằm phản ánh chính xác hơn bản chất kinh tế của các giao dịch tài chính và giá trị tài sản trong quá trình tái cấu trúc tập đoàn.
- Đối với chênh lệch tỷ giá: Một điểm thay đổi trọng yếu so với Thông tư số 202/2014/TT-BTC là việc bổ sung ngoại lệ đối với việc loại trừ các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái thuộc phạm vi điều chỉnh tại đoạn 28 của VAS 10. Trong khi Thông tư số 202/2014/TT-BTC yêu cầu loại trừ hoàn toàn và cơ học mọi khoản doanh thu, chi phí tài chính phát sinh từ việc đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ nội bộ, thì Thông tư số 43/2026/TT-BTC cho phép ghi nhận các khoản chênh lệch này nếu chúng thực sự phản ánh rủi ro hối đoái mà tập đoàn phải gánh chịu trước biến động của thị trường bên ngoài. Việc chuyển từ loại trừ “hoàn toàn” sang loại trừ “có điều kiện” giúp BCTCHN phản ánh trung thực hơn tác động của tỷ giá hối đoái đối với kết quả hoạt động kinh doanh của tập đoàn.
- Đối với lợi thế thương mại: Thông tư số 43/2026/ TT-BTC thực hiện chuẩn hóa phương pháp kế toán bằng cách chuyển trọng tâm từ việc ghi nhận lợi thế thương mại tại thời điểm phát sinh sang việc phản ánh “giá trị còn lại” tại thời điểm báo cáo. Trong các giao dịch tái cấu trúc như hợp nhất kinh doanh dưới quyền kiểm soát chung, Thông tư số 43/2026/TT- BTC siết chặt các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tạo ra lợi thế thương mại thông qua các nghiệp vụ đánh giá lại tài sản nội bộ không dựa trên giao dịch thực tế với bên thứ ba. Quy định mới yêu cầu giá trị lợi thế thương mại phải được theo dõi sát sao qua từng kỳ báo cáo, bao gồm cả việc đánh giá tổn thất, đảm bảo chỉ tiêu này phản ánh đúng giá trị thực tế mà tập đoàn kỳ vọng thu được từ việc thâu tóm công ty con. Sự điều chỉnh này không chỉ giúp hoàn thiện kỹ thuật hợp nhất mà còn góp phần minh bạch hóa các cấu trúc giao dịch nội bộ phức tạp, ngăn chặn hành vi làm đẹp số liệu thông qua các thủ thuật kế toán.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Có thể khẳng định, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý trong lĩnh vực kế toán tại Việt Nam. Nhìn nhận một cách tổng thể, Thông tư số 43/2026/TT-BTC không đơn thuần chỉ là một văn bản sửa đổi mang tính kỹ thuật, cập nhật biểu mẫu hay thay đổi mã số các chỉ tiêu trên báo cáo. Sâu xa hơn, nó còn thể hiện tư duy quản trị và lập báo cáo theo hướng chuyển dịch từ việc tuân thủ cơ học sang ưu tiên việc phản ánh bản chất kinh tế của các giao dịch tài chính trong các tập đoàn. Như vậy, Thông tư số 43/2026/TT-BTC đã góp phần xây dựng một khung pháp lý về kế toán hợp nhất chặt chẽ, minh bạch hơn. Các quy định mới hướng các tập đoàn kinh tế đến việc phản ánh trung thực hơn bức tranh tài chính của họ, qua đó cải thiện chất lượng thông tin trên thị trường tài chính, từ đó tạo cơ sở cho lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam trong tương lai.
Việc chuyển đổi từ Thông tư số 202/2014/TT-BTC sang Thông tư số 43/2026/TT-BTC không chỉ là bài toán của riêng bộ phận kế toán, mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc vận hành đối với ban lãnh đạo tập đoàn. Dưới góc độ quản trị, doanh nghiệp cần chủ động thích ứng, xem xét triển khai các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, thích ứng về mặt công nghệ. Quy định mới về việc lập báo cáo giữa niên độ và nộp trực tuyến qua Hệ thống thông tin quốc gia tạo ra áp lực rất lớn về tính kịp thời và độ chính xác của dữ liệu. Các phần mềm kế toán đóng gói rời rạc hoặc thao tác hợp nhất thủ công trên phần mềm Excel sẽ không còn đáp ứng được yêu cầu. Ban lãnh đạo cần coi đây là cơ hội để số hóa toàn diện quy trình tài chính. Việc đầu tư nâng cấp hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là bắt buộc. Hệ thống mới cần có khả năng tự động hóa thiết lập các bút toán loại trừ giao dịch nội bộ và cảnh báo rủi ro chênh lệch. Điều này giúp biến gánh nặng tuân thủ thành lợi thế kiểm soát dữ liệu theo thời gian thực.
Hai là, nâng cao năng lực xét đoán chuyên môn của bộ phận kế toán. Sự dịch chuyển sang nguyên tắc “Bản chất hơn hình thức” loại bỏ tư duy hợp nhất cơ học. Điều này đặt ra rủi ro sai sót trọng yếu nếu đội ngũ nhân sự kế toán không hiểu đúng bản chất của quyền kiểm soát hay cách ghi nhận lỗ từ công ty liên kết khi có cam kết bảo lãnh. Bộ phận kế toán phải chuyển đổi vai trò từ người ghi chép sang người phân tích. Tập đoàn cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về khung chuẩn mực IFRS có liên quan đến việc lập và trình bày BCTCHN cho đội ngũ nhân sự cốt lõi, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc lập và trình bày BCTCHN cấp tập đoàn.
Ba là, chuẩn hóa hệ thống báo cáo nội bộ. Tập đoàn không thể lập BCTCHN nhanh chóng nếu các công ty con trong tập đoàn áp dụng các chính sách kế toán và kỳ kế toán khác biệt. Sự thiếu đồng bộ sẽ dẫn đến khối lượng công việc điều chỉnh rất lớn vào cuối kỳ. Tập đoàn cần ban hành và áp dụng triệt để một bộ quy chuẩn kế toán thống nhât.
Quy chuẩn này cần quy định thống nhất các chính sách kế toán trọng yếu cần tuân thủ thống nhất, đồng thời quy định cụ thể thời gian khóa sổ đối với các công ty con và công ty liên kết. Sự thống nhất này là nhân tố then chốt để đáp ứng yêu cầu về thời gian công bố thông tin theo quy định của Thông tư số 43/2026/TT-BTC.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất.
- Bộ Tài chính (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020 phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam.
- Bộ Tài chính (2026). Thông tư số 43/2026/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 202/2014/TT-BTC về hướng dẫn phương pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất.
- International Accounting Standards Board (IASB) (2011). IFRS 10: Consolidated Financial Statements. International Financial Reporting Standards.
- Quốc hội (2024). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính. Số 56/2024/QH15, ngày 29/11/2024.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 1 tháng 7/2026 |
Tin tức khác
Gấp rút xử lý 396 văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 1/3/2027
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Dùng 2 tài khoản tạo cung cầu giả, một cá nhân bị phạt 1,5 tỷ đồng
Loạt chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 9/2026
Thuốc lá lậu trên không gian số: Bài toán cần tính đến trong chính sách kiểm soát thuốc lá
Việt Nam tạo thêm “điểm cộng” để hút dòng vốn quốc tế
Giảm áp lực chi phí đất đai, tăng khả năng dự liệu cho doanh nghiệp
PODCAST: Bộ Tài chính đề xuất siết chi tiền mặt và mở rộng thanh toán qua tài khoản qua Kho bạc
VIDEO: Cải cách quản lý thuế hải quan: Bước tiến thực chất từ Nghị định 252 và Thông tư 86
VIDEO: Bất ngờ thành chủ doanh nghiệp ma: Cảnh báo bẫy lừa từ lộ thông tin cá nhân
PODCAST: Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển
PODCAST: Kỳ họp không thường lệ thứ nhất: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Hợp tác nghị viện chặt chẽ, thúc đẩy triển khai tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
Hỗ trợ sinh kế, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân
Hôm nay, Hà Nội lấy ý kiến về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
Đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, đưa mục tiêu tăng trưởng về đích sớm năm 2026
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp mặt Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia Việt Nam tại Hàn Quốc
Thủ tướng: Chuyển mạnh quan hệ đầu tư Việt - Nhật sang "đối tác cùng phát triển và kiến tạo"
Chính phủ yêu cầu phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Chuyển một số nhiệm vụ về quản lý khu công nghiệp sang Bộ Công Thương
Việt Nam và Myanmar nhất trí tăng cường kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy kim ngạch thương mại song phương
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Đa dạng thị trường để giữ đà tăng trưởng
Kết nối dữ liệu thời gian thực trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
Huế thúc đẩy kinh tế đêm tại Đại Nội theo phương thức PPP
Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
Cơ cấu lại vốn nhà nước, mở đường cho doanh nghiệp phát triển
Đưa dòng vốn đầu tư công thành những công trình giao thông trọng điểm
Đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, đưa mục tiêu tăng trưởng về đích sớm năm 2026
Để nhân lực không trở thành “điểm nghẽn” của ngành bán dẫn











