Chuỗi cung ứng toàn cầu: Doanh nghiệp Việt cần thu hẹp “khoảng cách tiêu chuẩn”
![]() |
| Quang cảnh Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”. |
Xuất khẩu tăng, doanh nghiệp Việt vẫn đứng trước khoảng cách lớn
Trong những năm gần đây, chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của quá trình tái cấu trúc sản xuất, cạnh tranh thương mại, xung đột địa chính trị và yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung. Xu hướng dịch chuyển sản xuất và tìm kiếm các địa điểm đầu tư mới đang mở ra cơ hội để Việt Nam nâng cao vai trò trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Những cơ hội, thách thức từ quá trình này và yêu cầu nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước là những vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” được tổ chức ngày 18/9. Trong đó, vấn đề đáng chú ý là làm thế nào để Việt Nam không chỉ thu hút thêm đầu tư, mở rộng sản xuất mà còn nâng cao khả năng tham gia và giá trị của doanh nghiệp trong nước trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với độ mở kinh tế cao, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng, vị trí địa kinh tế thuận lợi và năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện, Việt Nam đang đứng trước cơ hội thu hút thêm dòng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất và tăng cường kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
Các chỉ số về tăng trưởng và sản xuất công nghiệp cho thấy nền tảng đáng kể để đón nhận cơ hội này. Theo TS. Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), GDP danh nghĩa năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9%, riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5%. Những kết quả này cho thấy công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam cũng tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI, với các dòng vốn lớn đến từ Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc. Theo ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và nâng cao hiệu quả thực thi các FTA.
Doanh nghiệp FDI còn có thể góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất dọc các hành lang, vành đai kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển các trung tâm logistics quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh kết nối số với các nền kinh tế trong khu vực, phát triển thương mại không giấy tờ và các nền tảng xử lý tranh chấp thương mại trực tuyến, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả giao thương xuyên biên giới.
Tuy nhiên, quy mô thương mại và xuất khẩu gia tăng chưa đồng nghĩa với việc vị thế và khả năng tạo giá trị của doanh nghiệp trong nước được nâng lên tương ứng.
![]() |
| ThS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược. |
Theo số liệu được TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đưa ra, giai đoạn 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2025, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%.
Đáng chú ý hơn, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Đây là một chỉ dấu cho thấy khoảng cách giữa mức độ hội nhập của nền kinh tế với năng lực tham gia trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ góc độ cơ cấu xuất khẩu, TS. Phạm Văn Quân cũng đặt ra vấn đề về phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam. Theo số liệu ông dẫn, khu vực doanh nghiệp FDI hiện chiếm khoảng 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 20,1%. Cơ cấu này cho thấy mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn còn hạn chế.
Trong khi đó, yêu cầu đối với nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng mở rộng. Bên cạnh chất lượng, giá thành, quy mô và độ tin cậy giao hàng, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc nguyên liệu, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.
Theo TS. Đỗ Diệu Hương, điều này khiến bài toán năng lực doanh nghiệp thay đổi. Doanh nghiệp không chỉ cần tạo ra sản phẩm đạt yêu cầu tại thời điểm giao hàng mà còn phải có hệ thống quản trị, quy trình và dữ liệu đủ khả năng chứng minh và duy trì sự phù hợp trong suốt quá trình cung ứng.
Những hạn chế bên trong còn đi cùng sức ép từ bên ngoài. Việt Nam đang đối diện với chính sách thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ từ năm 2025, các tiêu chí kỹ thuật nhằm hạn chế việc sử dụng đầu vào từ nền kinh tế thứ ba, cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước ASEAN, trong khi liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nâng năng lực nội địa để tận dụng dịch chuyển chuỗi cung ứng
Từ thực trạng trên, bài toán đặt ra không chỉ là thu hút thêm dòng vốn FDI mà còn phải nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước, tăng liên kết với khu vực FDI và từng bước gia tăng phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam.
Một trong những hướng đi được đặt ra là chuyển từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và có khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp tư nhân, logistics, hạ tầng số và năng lượng.
Trong đó, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước là một mắt xích quan trọng. Việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới doanh nghiệp cung ứng nội địa và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.
Công nghiệp hỗ trợ cũng được xác định là một nền tảng để từng bước thay đổi vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi. Theo TS. Phạm Văn Quân, Việt Nam cần chuyển dần từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang phát triển năng lực sản xuất trong nước. Nâng tỷ lệ nội địa hóa không chỉ giúp doanh nghiệp tăng khả năng cung ứng linh kiện, nguyên vật liệu và sản phẩm đầu vào mà còn tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp then chốt như điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may và da giày. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế tạo thị trường cho sản phẩm sản xuất trong nước, cơ quan quản lý cũng định hướng xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, nâng tỷ lệ nội địa hóa cần đi cùng nâng năng lực thực chất của doanh nghiệp. Theo phân tích của TS. Đỗ Diệu Hương, có 5 nhóm năng lực nền tảng cần được chú trọng, gồm chất lượng - công nghệ - năng suất; chi phí - quy mô - độ tin cậy giao hàng; quản trị - dữ liệu - truy xuất nguồn gốc; môi trường - carbon - lao động và trách nhiệm xã hội; đổi mới - thích ứng - chống chịu.
Ở đây, vấn đề không đơn thuần là đánh giá doanh nghiệp “mạnh hay yếu”, mà cần xác định được “khoảng cách tiêu chuẩn”. Khái niệm này được TS. Đỗ Diệu Hương xác định là khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp và năng lực cần thiết để đáp ứng, chứng minh và duy trì yêu cầu của một thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể.
Theo cách tiếp cận này, việc hỗ trợ doanh nghiệp cần đi vào xác định chính xác những năng lực còn thiếu và điểm nghẽn cần ưu tiên xử lý, từ đó giúp doanh nghiệp không chỉ gia nhập mà còn duy trì và từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi.
Cùng với năng lực sản xuất và quản trị, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cần được thúc đẩy mạnh mẽ trong sản xuất công nghiệp. Đây không chỉ là yêu cầu để đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế mà còn là cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Ở phạm vi rộng hơn, các giải pháp còn bao gồm tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất; tăng cường quản lý rủi ro về xuất xứ, phòng vệ thương mại, đa dạng hóa thị trường, phát triển logistics và xây dựng hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu cao.
Theo TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, chuỗi cung ứng toàn cầu đang điều chỉnh mạnh dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, xu hướng xanh hóa và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Quá trình này vừa tạo ra thách thức, vừa mở ra cơ hội để các quốc gia và doanh nghiệp tái định vị trong mạng lưới sản xuất, thương mại toàn cầu.
Với Việt Nam, cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế đang hiện hữu. Tuy nhiên, để chuyển cơ hội thành giá trị thực chất, yêu cầu đặt ra là nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, cải thiện quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế; qua đó từng bước nâng cao vị trí và phần giá trị của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tin tức khác
Doanh nghiệp cần vốn đúng thời điểm để nắm bắt cơ hội kinh doanh
Diễn đàn VIFC-ACCA 2026: Thúc đẩy hoàn thiện khung pháp lý, sản phẩm ưu tiên và cơ hội đầu tư tại Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng
Thương mại Việt - Trung mở rộng những kênh kết nối mới
Gia Lai trước cơ hội hình thành một cực tăng trưởng mới sau sáp nhập
Tài chính doanh nghiệp 24/7: VietinBank dự kiến huy động 16.000 tỷ đồng, Hạ tầng GELEX huy động 2.860 tỷ đồng
Hơn 4,1 triệu tỷ đồng dư nợ được bơm vào khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
AgriS ra mắt Trung tâm Đổi mới sáng tạo toàn cầu tại Singapore
VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
VIDEO: Các cơ chế tài chính tiếp thêm trợ lực cho doanh nghiệp
VIDEO: Cải cách thủ tục hành chính tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Tổng kết thực hiện Luật Quốc phòng, Dân quân tự vệ và Giáo dục quốc phòng, an ninh
Triển khai Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026
Hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa quy trình và thủ tục chỉ định thầu
Lượng hóa đóng góp của văn hóa vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc
Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam
Dấu mốc mới vun đắp hữu nghị, củng cố Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan
Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Mở dư địa mới cho thương mại biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc
Du lịch trải nghiệm Việt Nam: Chuyển tiềm năng thành giá trị tăng trưởng
Xuất khẩu thủy sản mở rộng thị trường nội địa
Kinh tế, tài chính và kinh doanh trong bối cảnh mới: “Cuộc chơi” của công nghệ số
Cơ chế sandbox thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
Nông nghiệp mở động lực tăng trưởng mới
Tạp chí Kinh tế - Tài chính và TAHUBA ký kết Thỏa thuận hợp tác truyền thông, kết nối thương mại
Liên kết vùng, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển













