Giai đoạn 2026-2030: Lấy chất lượng sống của người dân làm thước đo nông thôn mới
Thu nhập - tiêu chí trung tâm trong giai đoạn mới
Nếu như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 tập trung vào mục tiêu phát triển đi vào chiều sâu, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, thì chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 đã đặt ra những yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn về chất lượng phát triển.
Trong nhiều năm qua, không ít địa phương đã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới nhưng đời sống của một bộ phận người dân vẫn còn khó khăn. Những tuyến đường bê tông mới, nhà văn hóa khang trang hay hệ thống điện, nước được cải thiện là những thành quả đáng ghi nhận, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển bởi thu nhập của người dân chưa tăng tương xứng.
![]() |
| Chương trình đặt mục tiêu thu nhập bình quân người dân nông thôn đến năm 2030 gấp 2,5-3 lần so với năm 2020. |
Chính vì vậy, việc đặt mục tiêu thu nhập bình quân người dân nông thôn đến năm 2030 gấp 2,5-3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không đơn thuần là một chỉ tiêu kinh tế mà còn là thước đo trực tiếp phản ánh chất lượng tăng trưởng, hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của người dân.
Điều đó cho thấy tư duy phát triển nông thôn đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ: từ xây dựng hạ tầng sang nâng cao chất lượng cuộc sống; từ “đạt chuẩn” sang “sống tốt”; từ chú trọng các công trình sang đầu tư cho con người.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các địa phương sẽ phải chuyển trọng tâm từ hỗ trợ sản xuất truyền thống sang phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị, trao cho người dân cơ hội để trở thành chủ thể phát triển.
Giáo dục trở thành động lực phát triển
Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định khả năng phát triển của khu vực nông thôn. Một nền nông nghiệp hiện đại không thể dựa vào lao động giản đơn; một nền kinh tế nông thôn năng động không thể thiếu lực lượng lao động được đào tạo bài bản, có kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Vì vậy, chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030 tập trung nguồn lực nhiều hơn cho công tác giáo dục, bảo đảm tiếp cận giáo dục công bằng, toàn diện và học tập suốt đời cho người dân vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), an toàn khu, biên giới và hải đảo. Triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; duy trì nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi; phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, giáo dục hòa nhập; phát triển lớp học thông minh, mô hình học tập cộng đồng; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng học trực tuyến để mở rộng cơ hội học tập và học tập suốt đời, trong đó, ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, phụ nữ, trẻ em gái, người khuyết tật và người dân vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo;
Đồng thời, tập huấn nâng cao chất lượng lao động cho ngành nông nghiệp để hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có tri thức, tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu về xây dựng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung, ưu tiên cho lao động trên địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo;
Tại Thông tư số 42/2026/TT-BGDĐT ngày 29/5/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã hướng dẫn chi tiết các tiêu chí giáo dục mới, đưa ra lộ trình cụ thể dựa trên sự phân tầng địa bàn linh hoạt. Các chỉ tiêu được phân tầng theo 3 nhóm xã: nhóm 1 (liền kề đô thị), nhóm 2 (trung tâm) và nhóm 3 (vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số), cho phép các địa phương xây dựng lộ trình đạt chuẩn phù hợp với điều kiện ngân sách và địa hình thực tế.
Thông tư đặt ra yêu cầu mới về tỷ lệ người trong độ tuổi (18-22 tuổi) theo học trình độ sau THPT với mức yêu cầu lần lượt là 60% (nhóm 1), 50% (nhóm 2) và 40% (nhóm 3). Về trường chuẩn quốc gia, tỷ lệ tối thiểu cũng được quy định từ 70-90% tùy vào từng nhóm xã.
Một điểm mới đáng chú ý là việc nâng mức phổ cập bắt buộc mầm non xuống nhóm trẻ từ 3 đến 5 tuổi thay vì chỉ áp dụng cho trẻ 5 tuổi, thể hiện sự quan tâm sớm đến giáo dục mầm non tại nông thôn.
![]() |
| Một điểm mới đáng chú ý là việc nâng mức phổ cập bắt buộc mầm non xuống nhóm trẻ từ 3 đến 5 tuổi, thể hiện sự quan tâm sớm đến giáo dục mầm non tại nông thôn. |
Thông tư cũng quy định rõ các điều kiện để một tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM giai đoạn 2026–2030 là phải đảm bảo đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non từ 3–5 tuổi và ít nhất 80% số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Những yêu cầu mới này cho thấy mục tiêu của giai đoạn tới không chỉ là nâng tỷ lệ trường lớp hay số lượng học sinh đến trường mà còn hướng tới chất lượng học tập thực chất, tăng khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thích ứng của người học. Xa hơn, đó là nỗ lực thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao giữa khu vực nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa với khu vực đô thị.
An sinh xã hội trở thành “tấm lưới an toàn” cho phát triển bền vững
Bên cạnh thu nhập và giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Điểm khác biệt của giai đoạn mới là cách tiếp cận về nghèo đói và an sinh xã hội đã thay đổi đáng kể. Nghèo không còn được nhìn nhận đơn thuần qua mức thu nhập mà còn được đánh giá thông qua khả năng tiếp cận các dịch vụ.
Do đó, trong giai đoạn mới, nâng chuẩn an sinh xã hội không chỉ là hỗ trợ các đối tượng khó khăn mà sẽ xây dựng một hệ thống bảo vệ người dân trước những rủi ro ngày càng phức tạp do thiên tai, dịch bệnh, tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc của thị trường và được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vốn, việc làm và các cơ hội phát triển. Đặc biệt, những nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em sẽ được quan tâm, bảo đảm quyền lợi một cách đầy đủ, công bằng.
Từ những mục tiêu về thu nhập, giáo dục và an sinh xã hội có thể thấy Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 đang hướng tới một cách tiếp cận mới trong phát triển nông thôn: lấy chất lượng sống của người dân làm thước đo quan trọng nhất. Thành công của chương trình sẽ được đo bằng việc người dân có thu nhập cao hơn hay không, trẻ em có cơ hội học tập tốt hơn hay không, người cao tuổi có được chăm sóc tốt hơn hay không và các nhóm yếu thế có được bảo vệ đầy đủ hơn hay không. Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa nhất của việc nâng chuẩn chất lượng thực chất trong triển khai trương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn phát triển mới.
Tin tức khác
Nâng chất lượng nguồn nhân lực đại học trước yêu cầu mới
Du lịch Hà Nội tăng tốc, hiện thực hóa mục tiêu trở thành điểm đến hàng đầu khu vực
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
Đưa văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế
Du lịch y tế cần một hệ sinh thái để bứt phá
Nghị quyết số 26-NQ/TW mở đường nâng giá trị, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
TP. Hồ Chí Minh nâng sức cạnh tranh từ du lịch MICE
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm
Tiếp tục nâng chuẩn thị trường chứng khoán sau nâng hạng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Vốn đầu tư FDI tăng mạnh, mở rộng KKT Vũng Áng, hàng loạt dự án khởi công, 29 dự án cao tốc gọi vốn
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Sản xuất công nghiệp Hà Nội tăng trưởng 9%, củng cố sức chống chịu trước biến động toàn cầu
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Sức mua cải thiện, tạo nền tảng thúc đẩy thị trường tiêu dùng cuối năm
Giá đầu vào sản xuất tăng, nguồn cung hàng hóa vẫn được bảo đảm
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026









