Định hướng quản lý nợ công giai đoạn 2026-2030: Tiếp nối cải cách, kiến tạo dư địa phát triển
Đặt vấn đề
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý nợ công đã từng bước tiếp cận thông lệ tốt, thể hiện ở việc củng cố khuôn khổ thể chế, nâng cao kỷ luật vay - trả nợ, kéo dài kỳ hạn danh mục trái phiếu Chính phủ, giảm dần rủi ro tỷ giá và tăng cường công khai thông tin. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để bước sang giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu kép: (i) bảo đảm an toàn nợ và bền vững ngân sách; (ii) huy động vốn cho các chương trình, dự án có tính chất động lực (hạ tầng chiến lược, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo), qua đó hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.
Khuôn khổ quản lý hiện hành trước áp lực gia tăng nhu cầu huy động vốn
Một đặc điểm nổi bật của giai đoạn tới là nhu cầu vốn đầu tư công và vốn vay của Chính phủ có xu hướng tăng, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, các dự án năng lượng, logistics và hạ tầng số. Khi quy mô huy động lớn hơn, yêu cầu về dự báo dòng tiền, quản trị rủi ro đảo nợ và điều hành ngân quỹ càng trở nên quan trọng.
Với hệ thống chỉ tiêu quản lý nợ đã định hình từ bước đầu xây dựng Luật Quản lý nợ công, trong bối cảnh mới, mục tiêu kiểm soát an toàn nợ phải song hành với quản lý rủi ro danh mục nợ. Việc tiếp cận quản lý thông qua các chỉ tiêu danh mục nợ sẽ neo được đặc điểm chi phí - rủi ro danh mục nợ với biến động của các chu kỳ lãi suất, cấu trúc kỳ hạn, điều kiện vay và yếu tố thời điểm giải ngân - trả nợ. Việc hoàn thiện phương pháp luận, chuẩn hóa dữ liệu và tăng cường mô hình dự báo sẽ giúp đánh giá đúng mức độ rủi ro và mở rộng không gian chính sách một cách thận trọng, có căn cứ.
![]() |
| Nguồn vốn từ nợ công tiếp tục là đòn bẩy quan trọng để hiện thực hóa các công trình hạ tầng chiến lược, mở ra dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế giai đoạn 2026-2030. |
Ở khía cạnh thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ đã phát triển mạnh về quy mô, song chiều sâu và tính thanh khoản của thị trường thứ cấp vẫn còn là vấn đề cần được ưu tiên xử lý. Cơ cấu nhà đầu tư còn tập trung vào một số định chế nắm giữ dài hạn; điều này giúp ổn định phát hành trong ngắn hạn nhưng có thể làm suy giảm thanh khoản, hạn chế tín hiệu giá trên thị trường và tạo rủi ro tập trung quy mô đáo hạn ở một số thời điểm. Vì vậy, phát triển cơ sở nhà đầu tư đa dạng hơn, tăng tính hấp dẫn của thị trường thứ cấp và nâng chất lượng đường cong lợi suất cần được coi là nhiệm vụ then chốt gắn với quản lý nợ công.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế: từ kiểm soát tuân thủ sang quản trị rủi ro danh mục
Kế thừa nền tảng pháp lý hiện có, giai đoạn 2026-2030 cần tiếp tục rà soát, cập nhật và đồng bộ hóa các quy định liên quan đến vay, trả nợ và quản lý rủi ro, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới và thông lệ quốc tế. Trọng tâm không phải là nới lỏng kỷ luật nợ, mà là chuyển mạnh sang quản trị dựa trên rủi ro: xác định rõ ngưỡng rủi ro chấp nhận được (risk appetite), quy định cơ chế giám sát các rủi ro chủ yếu (lãi suất, tỷ giá, đảo nợ, thanh khoản), và hoàn thiện bộ chỉ tiêu cảnh báo sớm để chủ động ứng phó.
Cùng với đó, tăng cường sự gắn kết giữa kế hoạch vay, trả nợ với kế hoạch đầu tư công và dự toán ngân sách nhà nước từ khâu xây dựng, trình cấp thẩm quyền thông qua và triển khai vẫn tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm. Việc đồng bộ hóa các kế hoạch trung hạn cũng như hằng năm giúp bảo đảm vốn vay được định hướng huy động theo ưu tiên phát triển, đồng thời giảm thiểu tình trạng lệch pha giữa tiến độ dự án - giải ngân với nghĩa vụ trả nợ.
Nâng cấp mô hình tổ chức và năng lực vận hành theo thông lệ DMO
Đổi mới mô hình tổ chức quản lý nợ theo hướng chuyên nghiệp hóa là bước đi phù hợp với yêu cầu quản trị danh mục lớn, đa dạng công cụ và tăng tương tác với thị trường. Theo kinh nghiệm quốc tế, mô hình cơ quan quản lý nợ (DMO) với cấu trúc Front Office - Middle Office - Back Office cho phép tách bạch rõ các chức năng huy động vốn, phân tích rủi ro và tác nghiệp, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả vận hành.
Trong điều kiện Việt Nam, lộ trình hướng tới mô hình DMO cần được thiết kế phù hợp với khuôn khổ pháp lý và tổ chức hiện hành. Trọng tâm trước mắt là củng cố chức năng phân tích rủi ro và hoạch định chiến lược (Middle Office), chuẩn hóa quy trình phát hành - quản lý danh mục (Front Office), đồng thời hiện đại hóa hệ thống tác nghiệp, kế toán - thanh toán và thống kê nợ (Back Office). Đi liền với đó là phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu về thị trường vốn, quản trị rủi ro, mô hình hóa danh mục và công nghệ dữ liệu.
Phát triển công cụ nợ và mở rộng cơ sở nhà đầu tư: vận hành theo kỷ luật thị trường
Để huy động vốn bền vững, bộ công cụ nợ cần được hoàn thiện theo hướng đa dạng kỳ hạn, sản phẩm và phương thức phát hành, đồng thời tiếp tục nâng cao tính thị trường trong xác lập lãi suất. Việc duy trì kỷ luật thị trường không có nghĩa là “thả nổi” hoàn toàn, mà là kết hợp điều hành linh hoạt với nguyên tắc minh bạch, dựa trên tín hiệu cung - cầu và quản trị rủi ro.
Ở góc độ kỹ thuật, việc xây dựng đường cong lợi suất chuẩn, tăng cường vai trò nhà tạo lập thị trường, cải thiện cơ chế giao dịch - thanh toán và thúc đẩy các sản phẩm phòng ngừa rủi ro sẽ hỗ trợ phát triển thị trường thứ cấp. Đồng thời, cần chiến lược phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng cân bằng giữa nhà đầu tư tổ chức (bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư) và nhà đầu tư cá nhân, giảm phụ thuộc vào một nhóm nắm giữ chủ đạo.
Trong bối cảnh xu hướng tài chính bền vững gia tăng, phát hành trái phiếu xanh và các công cụ gắn với tiêu chí bền vững nên được triển khai có lộ trình, gắn với Danh mục phân loại xanh quốc gia và cơ chế đánh giá, báo cáo sử dụng vốn minh bạch. Song song, đề án trái phiếu bán lẻ có thể trở thành kênh huy động nguồn lực trong dân cư nếu đi kèm thiết kế sản phẩm phù hợp, cơ chế phân phối tiện lợi (ứng dụng số, mạng lưới ngân hàng), và thông tin đầy đủ để bảo vệ nhà đầu tư.
Tăng cường “hạ tầng dữ liệu” và số hóa quản lý nợ
Dữ liệu là nền tảng của quản trị rủi ro. Một trong các trụ cột quan trọng của giai đoạn 2026-2030 là đẩy mạnh số hóa, nâng cấp và tích hợp liên thông các hệ thống thống kê nợ, ngân quỹ và kế toán nhà nước theo hướng “thời gian gần thực” (near real-time). Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối thông suốt từ khâu phát hành, rút vốn, giải ngân đến trả nợ, cơ quan quản lý có thể theo dõi rủi ro danh mục chính xác hơn, đồng thời hỗ trợ điều hành ngân quỹ chủ động, giảm chi phí vay và tối ưu hóa dòng tiền.
Bên cạnh hệ thống công nghệ, cần thiết lập cơ chế công bố thông tin định kỳ với chất lượng cao hơn, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Minh bạch và nhất quán trong thông tin giúp cải thiện niềm tin thị trường, qua đó góp phần giảm chi phí huy động vốn trong trung hạn.
Kết luận
Định hướng quản lý nợ công giai đoạn 2026-2030 là sự tiếp nối của một tiến trình cải cách liên tục: giữ vững kỷ luật tài khóa và an toàn nợ, đồng thời đổi mới theo hướng kiến tạo phát triển dựa trên quản trị rủi ro và vận hành thị trường. Trên nền tảng thể chế được hoàn thiện, mô hình tổ chức chuyên nghiệp hơn, công cụ nợ đa dạng và hạ tầng dữ liệu hiện đại, công tác quản lý nợ công sẽ đảm đương nhiệm vụ huy động nguồn lực phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn, đóng góp hiệu quả trong việc bảo đảm bền vững tài chính quốc gia.Tin tức khác
Quy định mới về xác định gói thầu xây lắp tương tự để chỉ định thầu
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Tập trung mọi giải pháp thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
VIFC-HCMC: Thu hút nguồn tài chính quốc tế từ nền tảng niềm tin
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Vingroup khởi công dự án 41.000 tỷ đồng, Hòa Phát tăng đầu tư xanh tại Dung Quất
Siết chặt quản lý và minh bạch hóa báo cáo cho vay lại vốn ODA
Giao dịch tài sản mã hóa sẽ phải công khai về lệnh, giá, khối lượng mỗi phiên
Tuổi trẻ Bộ Tài chính nâng chất hoạt động, phát huy sức trẻ trong nhiệm vụ chuyên môn
VIDEO: Tháo gỡ nút thắt tỷ giá tính thuế cho hàng xuất khẩu
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
VIDEO: Các cơ chế tài chính tiếp thêm trợ lực cho doanh nghiệp
VIDEO: Cải cách thủ tục hành chính tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
Quản lý nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp và hạ tầng trọng điểm
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc
Giữ nhịp tăng trưởng cao, tạo sức bật dài hạn cho kinh tế Việt Nam
Dấu mốc mới vun đắp hữu nghị, củng cố Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan
Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Nhà Vua Thái Lan
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng hội kiến Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm Hội đàm với Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Nhà vua Vương quốc Thái Lan và Hoàng hậu
Liên kết vùng, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển
Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu từ 15h ngày 17/9
Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được bổ sung loạt cơ chế triển khai
Quỹ tiết kiệm năng lượng từ góc nhìn tài chính công: Một đồng vốn công phải tạo được nhiều đồng vốn xã hội
Tăng cường hướng dẫn phòng, chống rửa tiền trong kinh doanh kim khí quý, đá quý
Bao bì đạt chuẩn, hàng Việt chinh phục thị trường toàn cầu
Liên kết để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp
Phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp: Nâng quy mô, tăng giá trị









