Quỹ tiết kiệm năng lượng từ góc nhìn tài chính công: Một đồng vốn công phải tạo được nhiều đồng vốn xã hội
![]() |
| Việc hình thành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là cần thiết, với hiệu quả cần được đo lường bằng khả năng sử dụng vốn công để huy động thêm vốn và các nguồn lực xã hội. |
Quốc hội đã thông qua Luật số 77/2025/QH15, trong đó bổ sung Điều 41a quy định việc hình thành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Luật xác định đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; đồng thời giao Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ.
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 30/2026/NĐ-CP để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Trong năm 2026, Chính phủ giao Bộ Công Thương tiếp tục xây dựng, tham vấn mô hình thành lập Quỹ, đồng thời định hình cơ chế tổ chức và mô hình tài chính của Quỹ.
Như vậy, Luật số 77/2025/QH15 đã quy định thành lập Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả dưới hình thức quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Nghị định 30/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định vốn điều lệ của Quỹ được ngân sách nhà nước cấp từ nguồn vốn đầu tư công; đồng thời Quỹ được huy động vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng và nhận vốn ủy thác.
Ở đây, một câu hỏi rất quan trọng đặt ra từ góc nhìn tài chính công, đó là nếu Nhà nước bỏ một đồng vốn vào Quỹ thì đồng vốn đó phải được sử dụng như thế nào để tạo ra hiệu quả lớn nhất?
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng cao, đầu tư cho sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được nhìn nhận như một nguồn cung năng lượng đặc biệt. Việc hình thành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là cần thiết, nhưng hiệu quả của Quỹ không nên đo chủ yếu bằng quy mô vốn được cấp, mà bằng khả năng sử dụng vốn công để huy động thêm tín dụng ngân hàng, vốn doanh nghiệp, ESCO và các nguồn lực xã hội.
Tiết kiệm năng lượng là một nguồn lực cho tăng trưởng
Việt Nam đang bước vào giai đoạn nhu cầu năng lượng tăng nhanh cùng với yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Năm 2025, sản lượng điện thương phẩm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đạt khoảng 287,5 tỷ kWh. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, điện thương phẩm toàn quốc đến năm 2030 có thể đạt khoảng 500–558 tỷ kWh. Điều đó đặt ra áp lực rất lớn đối với phát triển nguồn điện, lưới điện và huy động vốn đầu tư cho ngành năng lượng.
Tuy nhiên, bảo đảm an ninh năng lượng không thể chỉ dựa vào xây thêm nhà máy điện. Một kWh điện tiết kiệm được nhờ đổi mới công nghệ, nâng hiệu suất thiết bị hay quản trị tốt hơn cũng có giá trị kinh tế tương tự một kWh phải sản xuất thêm, trong khi không phải đầu tư thêm toàn bộ chi phí nguồn và lưới điện. Vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả phải được xem là một trong những giải pháp đầu tư có chi phí thấp nhất đối với hệ thống năng lượng quốc gia.
Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019–2030 đặt mục tiêu tiết kiệm từ 8–10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc. Nhiều cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm được yêu cầu tăng cường kiểm toán năng lượng, áp dụng hệ thống quản lý năng lượng và giảm mức tiêu hao. Vấn đề hiện nay không phải Việt Nam thiếu tiềm năng tiết kiệm năng lượng, mà là chưa chuyển được đầy đủ tiềm năng đó thành các dự án có khả năng tiếp cận nguồn vốn thương mại.
![]() |
| Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt ra áp lực rất lớn đối với phát triển nguồn điện, lưới điện và huy động vốn đầu tư cho ngành năng lượng. |
Nhiều doanh nghiệp nhận thấy việc thay thế động cơ, lò hơi, hệ thống lạnh, máy nén khí, dây chuyền công nghệ có thể giảm đáng kể chi phí năng lượng. Tuy nhiên, họ vẫn trì hoãn vì thiếu vốn đầu tư ban đầu, thời gian hoàn vốn tương đối dài hoặc không có đủ tài sản thế chấp. Trong khi đó, ngân hàng thường khó đánh giá dòng tiền của dự án tiết kiệm năng lượng, bởi nguồn trả nợ chủ yếu đến từ chi phí năng lượng tiết kiệm được trong tương lai. Đây chính là khoảng trống mà Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần xử lý.
Không để Quỹ trở thành một kênh cấp phát ngân sách mới
Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, cùng Nghị định 30/2026/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và vận hành Quỹ. Điều quan trọng là phải xác định đúng chức năng của Quỹ ngay từ đầu.
Nếu Quỹ có 1.000 tỷ đồng và sử dụng toàn bộ để tài trợ trực tiếp cho các dự án thì quy mô tác động về cơ bản chỉ giới hạn quanh số vốn đó. Nhưng nếu 1.000 tỷ đồng được sử dụng để bảo lãnh một phần tín dụng, hỗ trợ chuẩn bị dự án hoặc chia sẻ rủi ro thì có thể huy động thêm vài nghìn tỷ đồng từ ngân hàng và doanh nghiệp. Vì vậy, thước đo quan trọng nhất không nên là “Quỹ đã giải ngân được bao nhiêu tiền”, mà phải là “một đồng vốn của Quỹ đã huy động thêm được bao nhiêu đồng vốn xã hội”. Đây là sự khác biệt căn bản giữa tư duy cấp phát ngân sách và tư duy tài chính phát triển.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quỹ hiệu quả năng lượng hoạt động tốt thường không tài trợ toàn bộ dự án. Thay vào đó, họ kết hợp nhiều công cụ như hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro, cho vay ưu đãi có chọn lọc và tài trợ dựa trên kết quả. Việt Nam nên đi theo hướng này.
Trước hết, Quỹ cần hỗ trợ khâu chuẩn bị dự án, gồm kiểm toán năng lượng, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, xác định mức tiết kiệm và xây dựng phương án tài chính. Đây thường là khoản chi không quá lớn nhưng lại có ý nghĩa quyết định. Nếu dự án được chuẩn bị tốt, có số liệu rõ ràng và dòng tiền minh bạch thì ngân hàng sẽ dễ thẩm định hơn.
Thứ hai, Quỹ nên ưu tiên bảo lãnh tín dụng một phần hoặc chia sẻ rủi ro thay vì tự cho vay toàn bộ. Một tỷ lệ bảo lãnh hợp lý có thể giúp giảm rủi ro cho ngân hàng, qua đó khuyến khích dòng vốn tín dụng tham gia nhiều hơn.
Thứ ba, hỗ trợ lãi suất chỉ nên áp dụng đối với những công nghệ hoặc lĩnh vực có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhưng chưa đủ hấp dẫn về mặt thương mại. Hỗ trợ phải có thời hạn, có điều kiện và tránh tạo tâm lý phụ thuộc vào vốn ưu đãi.
Hỗ trợ phải dựa trên kết quả tiết kiệm thực tế
Một yêu cầu quan trọng khác là chuyển từ hỗ trợ dựa trên chi phí đầu tư sang hỗ trợ dựa trên kết quả tiết kiệm. Không nên chỉ vì doanh nghiệp mua một thiết bị được quảng cáo là “tiết kiệm năng lượng” mà được hưởng ưu đãi. Vấn đề phải được xác định bằng kết quả thực tế: thiết bị đó sau khi vận hành đã tiết kiệm được bao nhiêu điện, bao nhiêu nhiên liệu và giảm được bao nhiêu chi phí. Muốn làm được điều này phải phát triển hệ thống đo lường và xác minh (M&V) chuyên nghiệp và độc lập. M&V không chỉ là một vấn đề kỹ thuật. Nó chính là cơ sở hình thành niềm tin cho thị trường tài chính.
Nếu ngân hàng có thể xác định một dự án giúp doanh nghiệp tiết kiệm 5-10 tỷ đồng chi phí năng lượng mỗi năm và khoản tiết kiệm này được kiểm chứng độc lập, dòng tiền tiết kiệm trong tương lai có thể trở thành cơ sở quan trọng để xem xét khả năng trả nợ. Điều đó sẽ giúp các dự án tiết kiệm năng lượng từng bước chuyển từ mô hình vay chủ yếu dựa trên tài sản thế chấp sang mô hình vay dựa nhiều hơn vào hiệu quả và dòng tiền của dự án.
![]() |
| Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng cần thiết kế theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường ESCO – các công ty dịch vụ năng lượng. |
Quỹ cũng cần hỗ trợ phát triển thị trường ESCO – các công ty dịch vụ năng lượng. ESCO có thể thực hiện kiểm toán, thiết kế, đầu tư công nghệ và thu hồi vốn từ phần chi phí năng lượng tiết kiệm được. Nhờ đó, doanh nghiệp sử dụng năng lượng không phải tự bỏ toàn bộ vốn đầu tư ban đầu. Tuy nhiên, để ESCO phát triển cần chuẩn hóa hợp đồng hiệu quả năng lượng, tiêu chuẩn năng lực doanh nghiệp ESCO, cơ chế M&V, xử lý tranh chấp và cơ chế tài chính phù hợp. Quỹ nên hỗ trợ xây dựng những điều kiện này thay vì cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng thương mại.
Dữ liệu minh bạch sẽ kéo dòng vốn vào thị trường
Một nhiệm vụ khác của Quỹ cần được coi trọng là xây dựng cơ sở dữ liệu về hiệu quả năng lượng. Dữ liệu cần bao gồm chi phí đầu tư của từng loại công nghệ, mức tiết kiệm thực tế, thời gian hoàn vốn, hiệu quả theo ngành, tỷ lệ thành công của dự án và kết quả các dự án từng được hỗ trợ.
Cơ sở dữ liệu này càng đầy đủ, ngân hàng càng có khả năng lượng hóa rủi ro. Khi rủi ro được lượng hóa tốt hơn, chi phí vốn sẽ giảm và khả năng huy động vốn cho các dự án cũng tăng lên. Đây là một chức năng rất quan trọng của Quỹ nhưng dễ bị bỏ qua nếu chỉ tập trung vào nhiệm vụ cấp tiền.
Lấy hiệu quả đồng vốn công làm thước đo
Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được quản trị như một công cụ tài chính chính sách, không phải một cơ quan phân bổ ngân sách. Mọi hỗ trợ phải dựa trên tiêu chí rõ ràng, có thể định lượng, hạn chế tối đa cơ chế xin – cho. Dự án cần được thẩm định, kiểm toán và đo lường kết quả độc lập. Cần đặc biệt tránh tình trạng Quỹ làm thay chức năng của ngân hàng. Ngân hàng vẫn phải là chủ thể chính cung cấp tín dụng và chịu trách nhiệm thẩm định rủi ro thương mại. Nhà nước chỉ nên can thiệp vào phần rủi ro hoặc chi phí mà thị trường chưa thể tự xử lý hiệu quả.
Vì vậy, hiệu quả của Quỹ nên được đánh giá bằng một hệ thống chỉ tiêu cụ thể: số vốn xã hội huy động được trên một đồng vốn Quỹ; lượng năng lượng tiết kiệm trên một đồng hỗ trợ; thời gian hoàn vốn; tỷ lệ dự án thành công; khả năng quay vòng vốn và mức giảm phát thải. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách luôn hữu hạn, cách làm hiệu quả nhất không phải Nhà nước bỏ tiền làm thay doanh nghiệp, mà là dùng vốn công làm vốn mồi để dẫn dắt dòng vốn tư nhân. Nếu được thiết kế đúng, Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ không trở thành một “quỹ cấp tiền” mới mà có thể trở thành bộ khuếch đại tài chính cho chuyển dịch năng lượng.
Vốn Nhà nước mở đường, ngân hàng và doanh nghiệp cung cấp phần lớn nguồn lực; Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro, thị trường quyết định phần lớn hoạt động đầu tư. Giá trị thực sự của Quỹ vì thế không nằm ở chỗ có bao nhiêu nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, mà ở khả năng biến một đồng vốn công thành nhiều đồng vốn xã hội và nhiều đơn vị năng lượng tiết kiệm cho nền kinh tế. Đó mới là nguyên tắc “tạo đòn bẩy” mà một công cụ tài chính công hiện đại cần hướng tới.
Tin tức khác
Bao bì đạt chuẩn, hàng Việt chinh phục thị trường toàn cầu
Liên kết để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp
Phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp: Nâng quy mô, tăng giá trị
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt 49,3 tỷ USD
Doanh nghiệp dẫn đầu phải tạo sức lan tỏa cho tăng trưởng quốc gia
Hơn 700 triệu USD vốn quốc tế hỗ trợ các dự án hạ tầng tại Việt Nam
Đề xuất thành lập Trung tâm dự trữ chiến lược về cát tại Vĩnh Long
VIDEO: Thu ngân sách hải quan 8 tháng tăng 17,4%: Động lực từ cải cách thủ tục và Hải quan số
PODCAST: Thông tin cá nhân bị dùng để lập doanh nghiệp: Người dân cần làm gì?
VIDEO: Các cơ chế tài chính tiếp thêm trợ lực cho doanh nghiệp
VIDEO: Cải cách thủ tục hành chính tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Ba kỳ chấm điểm đo lường tiến độ giải ngân đầu tư công
Dấu mốc mới vun đắp hữu nghị, củng cố Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan
Thi công “3 ca 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Nhà Vua Thái Lan
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng hội kiến Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm Hội đàm với Nhà vua Thái Lan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Nhà vua Vương quốc Thái Lan và Hoàng hậu
Việt Nam triển khai Chương trình hành động kết nối ASEAN giai đoạn 2026 - 2035
Chính phủ bãi bỏ 24 nghị định không còn được áp dụng trên thực tế
Việt Nam - Thái Lan: Nền tảng tin cậy, động lực quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện
Quỹ tiết kiệm năng lượng từ góc nhìn tài chính công: Một đồng vốn công phải tạo được nhiều đồng vốn xã hội
Tăng cường hướng dẫn phòng, chống rửa tiền trong kinh doanh kim khí quý, đá quý
Bao bì đạt chuẩn, hàng Việt chinh phục thị trường toàn cầu
Liên kết để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp
Phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp: Nâng quy mô, tăng giá trị
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt 49,3 tỷ USD
Doanh nghiệp dẫn đầu phải tạo sức lan tỏa cho tăng trưởng quốc gia
Hơn 700 triệu USD vốn quốc tế hỗ trợ các dự án hạ tầng tại Việt Nam














