Nâng cao chất lượng kiểm toán bằng cách tiếp cận dựa trên rủi ro
![]() |
| Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 137/2026/TT-BTC ngày 24/9/2026 về việc ban hành hai chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng. |
Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng dựa trên rủi ro
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 137/2026/TT-BTC ngày 24/9/2026 về việc ban hành hai chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng, gồm Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng số 1 (VSQM1) và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng số 2 (VSQM2).
Thông tư áp dụng đối với doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, người soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Trong đó, VSQM1 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán trong việc thiết kế, thực hiện và vận hành hệ thống quản lý chất lượng đối với hoạt động kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo khác hoặc các dịch vụ liên quan.
Điểm đáng chú ý của VSQM1 là áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro trong thiết kế, thực hiện và vận hành hệ thống quản lý chất lượng.
Theo đó, hệ thống quản lý chất lượng gồm 8 thành phần: Quy trình đánh giá rủi ro của doanh nghiệp kiểm toán; quản trị và lãnh đạo; chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan; chấp nhận, duy trì quan hệ khách hàng và các hợp đồng dịch vụ cụ thể; thực hiện hợp đồng dịch vụ; các nguồn lực; thông tin và truyền thông; quy trình giám sát và khắc phục.
Để vận hành hệ thống, doanh nghiệp kiểm toán phải thiết lập các mục tiêu chất lượng, xác định và đánh giá những rủi ro chất lượng, từ đó thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động nhận diện những điều kiện, sự kiện, tình huống, hành động hoặc việc không thực hiện hành động có thể ảnh hưởng xấu đến việc đạt được các mục tiêu chất lượng.
Hệ thống quản lý chất lượng phải được vận hành liên tục và có khả năng thích ứng với những thay đổi về đặc điểm, hoàn cảnh của doanh nghiệp cũng như các hợp đồng dịch vụ.
Tuy nhiên, chuẩn mực không yêu cầu tất cả doanh nghiệp kiểm toán xây dựng hệ thống có mức độ phức tạp như nhau. Việc thiết kế hệ thống phải phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của từng doanh nghiệp cũng như các hợp đồng mà doanh nghiệp thực hiện.
Chẳng hạn, doanh nghiệp thực hiện nhiều loại hợp đồng cho nhiều nhóm khách hàng, trong đó có kiểm toán báo cáo tài chính của tổ chức niêm yết, có thể cần hệ thống quản lý chất lượng và tài liệu hỗ trợ phức tạp, chính thức hơn so với doanh nghiệp thực hiện những loại dịch vụ ít phức tạp hơn.
Cùng với phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro, VSQM1 cũng làm rõ trách nhiệm của lãnh đạo đối với hệ thống quản lý chất lượng.
Ít nhất hằng năm, cá nhân được phân công trách nhiệm cao nhất và trách nhiệm giải trình cuối cùng đối với hệ thống quản lý chất lượng phải thay mặt doanh nghiệp đánh giá hệ thống, qua đó kết luận liệu hệ thống có cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của hệ thống đang được đáp ứng hay không.
Đáng chú ý, ngay cả khi doanh nghiệp kiểm toán thuộc một mạng lưới, sử dụng các yêu cầu hoặc dịch vụ của mạng lưới hay nguồn lực từ nhà cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hệ thống quản lý chất lượng của mình.
Chuẩn mực này cũng đồng thời yêu cầu doanh nghiệp thiết lập quy trình giám sát và khắc phục nhằm cung cấp thông tin thích hợp, đáng tin cậy và kịp thời về việc thiết kế, thực hiện và vận hành hệ thống; qua đó xác định và khắc phục kịp thời những khiếm khuyết phát sinh.
Tăng tính khách quan trong soát xét chất lượng
Cùng với hệ thống quản lý chất lượng ở cấp doanh nghiệp, VSQM2 quy định việc bổ nhiệm, tư cách hợp lệ và trách nhiệm của người soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ.
Theo VSQM1, doanh nghiệp phải thiết lập chính sách hoặc thủ tục yêu cầu soát xét chất lượng đối với một số nhóm hợp đồng. Trong đó có hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch; các hợp đồng kiểm toán hoặc dịch vụ khác mà pháp luật hoặc các quy định yêu cầu phải thực hiện soát xét chất lượng; và các hợp đồng mà doanh nghiệp xác định việc soát xét là biện pháp phù hợp để xử lý một hoặc nhiều rủi ro chất lượng.
Như vậy, VSQM2 không áp dụng đồng loạt cho tất cả hợp đồng dịch vụ mà tập trung vào những hợp đồng thuộc diện phải thực hiện soát xét chất lượng.
Theo chuẩn mực, soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ là việc đánh giá khách quan các xét đoán quan trọng của nhóm thực hiện hợp đồng và các kết luận về những xét đoán này. Hoạt động soát xét phải được hoàn thành vào hoặc trước ngày lập báo cáo của hợp đồng dịch vụ.
Để bảo đảm tính khách quan, người soát xét không được là thành viên của nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ; phải có năng lực, khả năng, đủ thời gian và thẩm quyền thích hợp để thực hiện công việc. Đồng thời, người này phải tuân thủ các chuẩn mực và quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm những yêu cầu về tính khách quan và tính độc lập.
Một yêu cầu đáng chú ý là khoảng thời gian ngừng tối thiểu hai năm trước khi một cá nhân từng là thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ có thể đảm nhận vai trò người soát xét chất lượng đối với hợp đồng đó. Quy định về khoảng thời gian ngừng nhằm xử lý các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của người soát xét khi trước đó người này từng phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ.
Doanh nghiệp kiểm toán cũng phải thiết lập chính sách hoặc thủ tục để xử lý trường hợp người soát xét không còn đáp ứng các điều kiện cần thiết, trong đó có việc xác định và bổ nhiệm người thay thế.
Trong quá trình soát xét, nếu lo ngại các xét đoán quan trọng hoặc kết luận của nhóm thực hiện hợp đồng không thích hợp, người soát xét phải thông báo cho thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ. Nếu những lo ngại không được giải quyết thỏa đáng, người soát xét phải thông báo cho cá nhân phù hợp trong doanh nghiệp rằng việc soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ không thể hoàn thành.
Việc hoàn thành soát xét cũng gắn với thời điểm lập báo cáo. Thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ không được xác định trước ngày và ghi ngày lập báo cáo cho đến khi nhận được thông báo rằng việc soát xét chất lượng đã hoàn thành.
Tuy nhiên, VSQM2 xác định việc soát xét chất lượng không nhằm đánh giá liệu toàn bộ hợp đồng dịch vụ có tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp và pháp luật, quy định có liên quan hay không. Việc thực hiện soát xét cũng không làm thay đổi trách nhiệm của thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể hợp đồng dịch vụ trong việc quản lý và đạt được chất lượng của hợp đồng.
Thông tư số 137/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 1/1/2029. Cùng thời điểm, Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 (VSQC1) ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 6/12/2012 hết hiệu lực.
Thông tư cũng có quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng dịch vụ theo thời điểm bắt đầu kỳ kế toán hoặc thời điểm bắt đầu dịch vụ. Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam được giao trách nhiệm phổ biến, triển khai và hướng dẫn thực hiện hai chuẩn mực mới.
Tin tức khác
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Kokuyo rót thêm 28 tỷ Yên cho thương vụ Thiên Long, BAF tiếp tục mở rộng hệ thống công ty con
Các sự kiện nổi bật của ngành Tài chính tháng 9/2026
TP. Hồ Chí Minh bứt phá 28 bậc GFCI 40, tiến sâu vào bản đồ tài chính toàn cầu
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Điểm lại một số chính sách tài chính được ban hành trong tháng 9/2026
12 tỉnh, thành phố tăng trưởng GRDP 2 con số trong 9 tháng năm 2026
Từ Nghị quyết 10-NQ/TW đến Nghị quyết 280/NQ-CP: Bước chuyển hiện thực hóa mục tiêu chiến lược thu hút FDI chất lượng cao
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
Giao chỉ tiêu gần 900.000 căn nhà ở xã hội, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Kéo dài chính sách thuế với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết năm 2026
Bảo đảm chất lượng, tiến độ các dự án luật trong Chương trình lập pháp năm 2027
Chỉ số PMI đạt 51,9 điểm, ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục được cải thiện
Từ Nghị quyết 10-NQ/TW đến Nghị quyết 280/NQ-CP: Bước chuyển hiện thực hóa mục tiêu chiến lược thu hút FDI chất lượng cao
Kỳ họp thứ hai, Quốc hội dự kiến thông qua 38 luật, 7 nghị quyết
Chính phủ thống nhất nội dung dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật
Phát triển thông tin cơ sở thành hạ tầng số chiến lược của quốc gia
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm xã hội: Mở rộng bao phủ, bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động
Điều chỉnh giá bán xăng dầu trong nước từ 15h ngày 1/10
Thông xe cao tốc Bến Lức - Long Thành, rút ngắn hành trình Đông – Tây Nam Bộ
Giải bài toán nhân lực chất lượng cao để thu hút vốn FDI
Xuất khẩu nông sản Việt Nam: Nâng giá trị để đi sâu vào thị trường quốc tế
Thương mại duy trì đà tăng, tập trung kiểm soát nhập siêu trong 3 tháng cuối năm
Hoàn thiện thể chế hoạt động kinh doanh xăng dầu phù hợp với cơ chế thị trường
12 tỉnh, thành phố tăng trưởng GRDP 2 con số trong 9 tháng năm 2026
Từ Nghị quyết 10-NQ/TW đến Nghị quyết 280/NQ-CP: Bước chuyển hiện thực hóa mục tiêu chiến lược thu hút FDI chất lượng cao








