aa

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam

14:26 | 01/02/2025
Trong bối cảnh Việt Nam đang phấn đấu gia nhập vào thị trường mới nổi, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài, do đó phụ thuộc nhiều vào nguồn lực nội bộ, bao gồm tiền mặt. Bài viết nghiên cứu tác động của Tỷ suất sinh lời đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Giới thiệu

Việc nắm giữ đủ tiền mặt giúp doanh nghiệp thực hiện các giao dịch hàng ngày, bao gồm thanh toán cho khách hàng và nhận tiền từ họ, từ đó tạo ra số dư giao dịch ổn định. Đồng thời, việc này cũng cho phép doanh nghiệp bù đắp số dư cần thiết để sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Ngoài ra, tiền mặt còn đóng vai trò quan trọng trong việc dự phòng cho những biến động không lường trước về dòng tiền. Doanh nghiệp cũng có thể tận dụng lợi thế chiết khấu khi mua hàng nếu có đủ tiền mặt sẵn có.

Hơn nữa, sự linh hoạt trong quản lý tiền mặt giúp doanh nghiệp nhanh chóng đáp ứng các cơ hội kinh doanh và xử lý các tình huống khẩn cấp, như: khủng hoảng tài chính hoặc biến động thị trường. Tuy nhiên, việc nắm giữ quá nhiều tiền mặt có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn, làm giảm khả năng đầu tư vào các hoạt động sinh lời. Ngược lại, nếu không đủ tiền mặt, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán, làm giảm uy tín và mối quan hệ với các đối tác (Vũ Duy Hào, 2023).

Mức nắm giữ tiền của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn từ cả nhân tố chủ quan và khách quan (Vuong và Nguyen, 2024). Sự khác biệt trong quản trị công ty giữa các quốc gia có thể dẫn đến sự chênh lệch lớn về mức tiền mặt nắm giữ giữa các doanh nghiệp (Kuan và cộng sự, 2011). Do đó, kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt có thể khác nhau tùy vào từng quốc gia, từng ngành.

Trong bối cảnh Việt Nam đang phấn đấu gia nhập vào thị trường mới nổi, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài, do đó phụ thuộc nhiều vào nguồn lực nội bộ, bao gồm tiền mặt. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong ngành logistics - một ngành đang phát triển nhanh chóng nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức - sẽ cung cấp những hàm ý quản lý quan trọng cho quản trị vốn bằng tiền, quản trị vốn lưu động và chiến lược đầu tư.

Tổng quan và phương pháp nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu của Bigelli, M. và cộng sự (2012) cho thấy, việc nắm giữ tiền mặt có tác động tích cực đối với các công ty có quy mô nhỏ hơn, rủi ro cao hơn, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn và thâm hụt tài chính thấp hơn. Việc thanh toán cổ tức cũng làm tăng mức nắm giữ tiền mặt, trong khi nợ ngân hàng và vốn lưu động ròng được xem là các nhân tố thay thế tiền mặt hiệu quả. Nhìn chung, các công ty nắm giữ nhiều tiền mặt hơn có lợi nhuận cao hơn và đầu tư nhiều hơn trong trung hạn.

Ogundipe và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, việc nắm giữ tiền mặt có mối tương quan dương với dòng lưu chuyển tiền tệ, đòn bẩy tài chính, ROA và đầu tư tài sản cố định. Đồng thời, vốn lưu động ròng lại có mối tương quan âm với việc nắm giữ tiền mặt. Cơ hội đầu tư và quy mô doanh nghiệp cũng có tác động tích cực đáng kể đến việc giữ tiền mặt của các công ty.

Nghiên cứu của Khan và cộng sự (2019) phân tích tác động của cơ cấu công ty đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Karachi giai đoạn 2006-2013. Kết quả cho thấy, đòn bẩy và vốn mạng lưới có mối quan hệ tiêu cực và đáng kể với việc nắm giữ tiền mặt, trong khi cơ hội tăng trưởng có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa. Quy mô công ty có mối quan hệ tiêu cực nhưng không đáng kể với việc nắm giữ tiền mặt. Thống kê mô tả chỉ ra sự khác biệt lớn giữa việc nắm giữ tiền mặt của các công ty đa dạng hóa và tập trung. Theo

Orlova, S. V. (2020) phân tích các mô hình quản lý tiền mặt, đặc biệt là tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ (CH-SOA), trên 48 quốc gia. Kết quả cho thấy, các đặc điểm văn hóa quản lý và các nhân tố kinh tế vĩ mô ở cấp quốc gia có ảnh hưởng đến tính bền vững của mức dự trữ tiền mặt, độ lệch so với mục tiêu và tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt của các công ty. Cụ thể, ở các quốc gia có thị trường chứng khoán kém phát triển, lạm phát cao dẫn đến lượng tiền mặt nắm giữ thấp hơn. Ngược lại, ở các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển hơn, các công ty có xu hướng tăng cường nắm giữ tiền mặt khi lạm phát gia tăng. Hơn nữa, GDP cao hơn có liên quan đến sự biến động lớn hơn trong dự trữ tiền mặt.

Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2023) nghiên cứu tác động của các nhân tố tới mức nắm giữ tiền của các công ty niêm yết Việt Nam. Kết quả hồi quy cho thấy, Đòn bẩy tài chính, Quy mô doanh nghiệp, Dòng tiền, Chi phí vốn và Tăng trưởng doanh thu có mối tương quan ngược chiều với Việc nắm giữ tiền mặt, trong khi Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lại góp phần gia tăng mức tiền mặt nắm giữ. Đặc biệt, nghiên cứu cũng xem xét tác động điều tiết của Hạn chế tài chính lên mối quan hệ giữa các nhân tố và việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, Hạn chế tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến tác động của các nhân tố này đến Mức tiền mặt mà doanh nghiệp giữ.

Nghiên cứu của Phạm Tiến Mạnh (2018) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các công ty tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2016. Kết quả cho thấy, Thành viên Hội đồng quản trị độc lập và Thành viên Hội đồng quản trị đồng thời làm việc tại các công ty khác có tác động ngược chiều đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Quy mô doanh nghiệp càng lớn, thì Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt càng nhỏ, trong khi các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao lại nắm giữ tỷ lệ tiền mặt cao hơn.

Nghiên cứu của Đào Lê Kiều Oanh (2024) cho mối quan hệ tiêu cực giữa Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi; Năng lực cho vay; Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng và Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, cho thấy khi ngân hàng đẩy mạnh cho vay, tỷ lệ tiền mặt giảm. Ngược lại, lợi nhuận trên tài sản và quy mô ngân hàng có mối tương quan tích cực với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, phản ánh ngân hàng lớn và có lợi nhuận thường giữ nhiều tiền mặt hơn. Lạm phát và tăng trưởng GDP cũng có tác động tích cực, khi nền kinh tế phát triển, ngân hàng tăng cường dự trữ tiền mặt để quản lý rủi ro và đáp ứng nhu cầu giao dịch.

Trần Huỳnh Kim Thoa (2024) tập trung vào việc xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả đã sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của 39 công ty trong giai đoạn 2017-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Chính sách chi trả cổ tức và Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Ngược lại, Vốn lưu động thuần và Khả năng thanh toán tức thời có tác động tiêu cực đến Việc nắm giữ tiền mặt.

Nghiên cứu của Phạm Thanh Tú (2017) cho thấy, Quy mô công ty có tác động tiêu cực, trong khi nhân tố Vốn lưu động ròng, Dòng tiền, Đòn bẩy tài chính, Lợi nhuận trên tổng tài sản, Thời gian hoạt động và Sở hữu nhà nước đều có tác động tích cực tới Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2013.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập trong nghiên cứu này là 486 quan sát, mẫu bao gồm 81 doanh nghiệp logistics đã niêm yết và hiện đang giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam gồm: HOSE, HNX và UPCOM; có số liệu thu thập từ báo cáo tài chính đầy đủ, liên tục trong giai đoạn 2018-2023. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa thêm một số biến kiểm soát, gồm: một số nhân tố vi mô tính từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp và một số nhân tố vĩ mô được thu thập từ trang dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Bài viết áp dụng mô hình thống kê và hồi quy dữ liệu dạng bảng, thực hiện các phép kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định tự tương quan, phương sai sai số thay đổi để tìm mô hình hồi quy phù hợp trong các mô hình sau: POOLED OLS, FEM, REM, FGLS. Từ đó giúp tìm nhân tố nào trong nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời có tác động tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các biến và kỳ vọng dấu được thể hiện như Bảng 1.

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 1

Để xem xét chỉ tiêu nào ảnh hưởng tới Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong nhóm Tỷ suất sinh lời, tác giả lần lượt chạy hồi quy 3 mô hình, phương trình như sau:

CASH 1 = β0 + β1 ROA + β2 MR + β3 NWC + β4 SIZE + β5 GR + β6 AGE + β7 GDPR + β8 InfR + ℇ

CASH 2 = β0’ + β1’ ROE + β2’ MR + β3’ NWC + β4’ SIZE + β5’ GR + β6’ AGE + β7’ GDPR + β8’ InfR + ℇ

CASH 3 = β0’’ + β1’’ ROS + β2’’ MR + β3’’ NWC + β4’’ SIZE + β5’’ GR + β6’’ AGE + β7’’ GDPR + β8’’ InfR + ℇ

Giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H1: Tỷ suất sinh lời tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H2: Khả năng thanh toán tức thời tác động tiêu cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H3: Tỷ lệ vốn lưu động thuần tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H4: Quy mô doanh nghiệp tác động tiêu cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H5: Tốc độ tăng trưởng doanh thu tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H6: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H7: Tốc độ tăng trưởng GDP tác động tích cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

H8: Tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

Kết quả nghiên cứu

Thống kê mô tả

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 2

Bảng 2 cung cấp thông tin tổng quan về dữ liệu bao gồm 486 quan sát, trong đó:

- Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH) trung bình của ngành là 11,66%. CASH cao nhất đạt 1386,536%, trong khi thấp nhất là 0,035%. Độ lệch chuẩn là 0,63, cho thấy dữ liệu có độ phân tán quanh giá trị trung bình hẹp.

- ROA trung bình của ngành là 8,47%. ROA cao nhất đạt 723,23%, trong khi thấp nhất là (64,35%). Tuy nhiên, độ lệch chuẩn là 0,44, cho thấy dữ liệu có độ phân tán quanh giá trị trung bình hẹp.

- ROE trung bình của ngành là 17,59%. ROE cao nhất đạt 1.607,39%, trong khi thấp nhất là (178,23%). Độ lệch chuẩn là 0,992, thể hiện thấy dữ liệu có độ phân tán quanh giá trị trung bình khá lớn.

- ROS trung bình của ngành là (1,602%). ROS cao nhất đạt 452,65%, trong khi thấp nhất là (3.512,3%). Độ lệch chuẩn là 1.86, thể hiện thấy dữ liệu có độ phân tán quanh giá trị trung bình rất lớn.

Các biến kiểm soát trong mô hình có 3 chỉ tiêu có độ phân tác dữ liệu lớn bao gồm: Chỉ tiêu GR có độ phân tán dữ liệu quanh giá trị trung bình rộng nhất, thứ hai là chỉ tiêu AGE có mức độ khác biệt lớn về thời gian hoạt động của doanh nghiệp, tiếp theo là MR có độ lệch chuẩn 3,86, cho thấy độ phân tán dữ liệu MR giữa các doanh nghiệp rất lớn, còn lại các biến có độ lệch chuẩn khá thấp, thể hiện dữ liệu có độ phân tán quanh giá trị trung bình thấp.

Thực hiện ma trận tương quan giữa các biến sử dụng trong mô hình. Các biến SIZE, GR, AGE có tương quan ngược chiều với biến phụ thuộc CASH với hệ số tương quan thấp dưới 0,1; Các biến còn lại có tương quan cùng chiều với biến phụ thuộc CASH, trong đó các biến ROA, ROE, ROS, MR có hệ số tương quan cao nhất với ý nghĩa thống kê tại mức 1%, đây là bước đầu đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới biến phụ thuộc. Tuy nhiên, các hệ số này chỉ phản ánh kết quả hồi quy đơn biến, chưa xét đến tác động đồng thời của các nhân tố khác. Vì vậy, nghiên cứu tiếp tục thực hiện hồi quy đa biến nhằm xác định mối quan hệ giữa các nhân tố và Tỷ lệ nắm giữ tiền một cách chính xác hơn. Mối tương quan giữa các cặp biến sử dụng trong mô hình đều ở mức tương đối thấp dưới 0,8, nên mô hình có khả năng không có hiện tượng đa cộng tuyến.

Để khẳng định chắc chắn có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra hay không, thì tác giả tiếp tục thực hiện phương pháp nhân tử phóng đại phương sai (VIF). Kết quả tất cả các biến đều có hệ số VIF < 2, nên các biến trong mô hình không có đa cộng tuyến với nhau.

Tác giả tiếp tục tiến hành các bước kiểm định, lựa chọn mô hình phù hợp nhằm giải thích tác động của các biến được lựa chọn lên chỉ tiêu CASH.

Kết quả kiểm định để lựa chọn mô hình POOLED OLS

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 3

Kết quả (Bảng 3) cho thấy, tất cả các biến đại diện cho Tỷ suất sinh lời đều có giá trị P-value trong kiểm định phương sai thay đổi < 5%, do vậy cả 3 mô hình tác động của tỷ suất sinh lời đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt vi phạm kiểm định phương sai thay đổi.

Kết quả kiểm định tự tương quan cho thấy, tất cả các biến đại diện cho Tỷ suất sinh lời đều có giá trị P-value trong kiểm định tự tương quan < 5%, do vậy cả 3 mô hình tác động của tỷ suất sinh lời đến ROA vi phạm kiểm định tự tương quan. Tác giả sẽ tiến hành thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn giữa 2 mô hình hồi quy FEM, REM.

Kết quả kiểm định để lựa chọn mô hình FEM, REM, FGLS

Tác giả tiếp tục thực hiện chạy mô hình hồi quy FEM, REM và thực hiện kiểm định Hausman với giả định H0: Mô hình REM tốt hơn FEM.

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 4

Kết quả của kiểm định Hausman đối với 3 mô hình đều có giá trị P-value > 5%. Do vậy kết luận lựa chọn mô hình REM để giải thích tác động tới biến phụ thuộc.

Tuy nhiên, để kiểm tra mô hình REM có thực sự phù hợp hay không, thì cần thực hiện tiếp kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan (Bảng 5).

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 5

Kết quả (Bảng 5) cho thấy, tất cả 3 mô hình có các biến đại diện cho Tỷ suất sinh lời đều có giá trị P-value trong kiểm định phương sai thay đổi > 5%, điều đó có nghĩa là các mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi.

Trong kiểm định tự tương quan, cả 3 mô hình có giá trị p-value đều < 5%. Do vậy, 3 mô hình tác động của Tỷ suất sinh lời đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt đều vi phạm kiểm định tự tương quan. Để kết quả ước lượng không chệch và hiệu quả, cần tiếp tục chạy mô hình FGLS để loại bỏ khuyết tật từ mô hình REM được chọn, khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan.

Mô hình tác động của Tỷ suất sinh lời tới Tỷ lệ nắm giữ tiền

Kết quả (Bảng 6) cho thấy: Cả 3 nhân tố phản ánh Tỷ suất sinh lời đều có tác động tích cực tới Tỷ lệ nắm giữ tiền; trong đó, ROA có tác động mạnh nhất, ở mức ý nghĩa thống kê 1%; tiếp theo là ROE ở mức ý nghĩa thống kê 1%; ROS có tác động yếu nhất, với mức ý nghĩa thống kê 5%.

Các biến kiểm soát đưa vào mô hình có biến MR tác động tích cực tới Tỷ lệ nắm giữ tiền tại mức ý nghĩa thống kê 1% trong cả 3 mô hình. Ngoài ra, trong mô hình tác động của ROS tới Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, có thêm biến InfR có tác động mạnh tới Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, với mức ý nghĩa thống kê 10%.

Các nhân tố còn lại trong mô hình không đủ cơ sở để đánh giá mức độ ảnh hưởng tới tỷ lệ nắm giữ tiền.

Tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Ảnh 6

Qua đó, xây dựng được phương trình mẫu của nhân tố Tỷ suất sinh lời tác động đến Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt như sau:

CASH = 0,152 + 0,925ROA + 0,0386MR + ℇ

CASH = 0,117+ 0,395ROE + 0,0408MR + ℇ

CASH = 0,282 + 0,0326ROS + 0,0715MR + 7,640InfR + ℇ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 3 chỉ tiêu ROA, ROE, ROS đều tác động tích cực tới tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp logistics. Doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao nên thực hiện các biện pháp tối ưu hóa quản lý tiền mặt. Cụ thể:

Xác định mức tiền mặt tối ưu: Giữ lượng tiền mặt hợp lý dựa trên Tỷ suất sinh lời (ROA, ROE, ROS) để đảm bảo thanh khoản, mà không làm giảm hiệu suất vốn.

Đầu tư vào tài sản thanh khoản: Sử dụng tiền mặt dư thừa cho các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao để tăng giá trị và dễ chuyển đổi khi cần.

Tối ưu hóa dòng tiền: Quản lý chặt chẽ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và cải thiện vòng quay vốn lưu động.

Phân bổ lợi nhuận hợp lý: Chia một phần lợi nhuận cho cổ đông hoặc tái đầu tư vào các dự án tiềm năng thay vì giữ lại quá nhiều tiền mặt.

Quản lý rủi ro tài chính: Duy trì tiền mặt dự phòng để đối phó với khủng hoảng và biến động kinh tế.

Phân bổ linh hoạt giữa đầu tư và tiền mặt: Đánh giá hiệu quả đầu tư để điều chỉnh mức nắm giữ tiền mặt khi cần thiết, tối ưu hóa lợi nhuận.

Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo

Tin tức khác

Định giá cổ phiếu hấp dẫn, cơ hội đầu tư phân hóa theo triển vọng lợi nhuận

Định giá cổ phiếu hấp dẫn, cơ hội đầu tư phân hóa theo triển vọng lợi nhuận

Định giá cổ phiếu hấp dẫn, nhưng thanh khoản hạn chế và triển vọng lợi nhuận phân hóa khiến nhà đầu tư cần chọn lọc cơ hội dựa trên chất lượng tăng trưởng.
Sự kiện chứng khoán ngày 21/10

Sự kiện chứng khoán ngày 21/10

Sự kiện chứng khoán ngày 21/10 đáng chú ý với tin giao dịch bổ sung cổ phiếu và chốt quyền trả cổ tức bằng tiền, bằng cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch.
SSI lãi hơn 4.500 tỷ đồng, hoàn thành 77% kế hoạch năm

SSI lãi hơn 4.500 tỷ đồng, hoàn thành 77% kế hoạch năm

Chứng khoán SSI ước lãi trước thuế hợp nhất 9 tháng tăng 11%, hoàn thành 77% kế hoạch năm, trong khi dư nợ margin cuối quý III đạt hơn 38.000 tỷ đồng.
Dòng tiền cuối phiên đưa VN-Index trở lại sắc xanh

Dòng tiền cuối phiên đưa VN-Index trở lại sắc xanh

Lực cầu gia tăng trong những phút cuối giúp VN-Index đảo chiều tăng 2,13 điểm, với điểm sáng tại nhóm y tế, thép và bất động sản khu công nghiệp.
VPBankS lãi trước thuế hơn 3.500 tỷ đồng sau 9 tháng

VPBankS lãi trước thuế hơn 3.500 tỷ đồng sau 9 tháng

Doanh thu 9 tháng của Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) khoảng 10.600 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ, lãi trước thuế 3.516 tỷ, tăng 8%, nhờ mảng ngân hàng đầu tư và margin.
Nhiều chuyên gia, tổ chức tài chính tham gia Tọa đàm 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Nhiều chuyên gia, tổ chức tài chính tham gia Tọa đàm 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Tọa đàm “30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam: Động lực mới, Vị thế mới, Sức bật mới” sẽ quy tụ đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp.
Sự kiện chứng khoán ngày 20/10

Sự kiện chứng khoán ngày 20/10

Sự kiện chứng khoán ngày 20/10 ghi nhận nhiều thông tin quan trọng gồm CTP chốt quyền nhận cổ phiếu thưởng tỷ lệ 20%, các doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền và TCI, VFS lấy ý kiến cổ đông.
F88 lãi trước thuế 1.087 tỷ đồng sau 9 tháng

F88 lãi trước thuế 1.087 tỷ đồng sau 9 tháng

F88 hoàn thành 96% kế hoạch lợi nhuận năm sau 3 quý và kỳ vọng cả năm lãi trước thuế 1.500 tỷ đồng, vượt khoảng 32% kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Xem thêm
video nganh thue ngan chan vi pham hoa don bang cong nghe phan tich du lieu lon

VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn

Hành vi của các doanh nghiệp "ma" xuất khống hóa đơn không chỉ làm thất thu nghiêm trọng ngân sách nhà nước mà còn đẩy nhiều doanh nghiệp làm ăn chân chính vào rủi ro pháp lý lớn khi vô tình sử dụng hóa đơn đầu vào bất hợp pháp. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast doanh nghiep chuyen phat gap rut nang cap he thong theo thong tu 142

PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142

Thưa quý vị, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 142/2026/TT-BTC, chính thức xác lập hạ tầng định danh, xác thực điện tử và chuẩn hóa dữ liệu cho toàn bộ hàng hóa qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. ---------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast quyet liet chong hang gia online tu xu ly tai khoan ao den niem phong kho thuc

PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực

Sự bùng nổ của thương mại điện tử đang kéo theo làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của hàng giả, hàng nhái và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lên môi trường số với thủ đoạn ngày càng ẩn danh, tinh vi. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video thuc day hop tac kinh te tai chinh viet nam luxembourg

VIDEO: Thúc đẩy hợp tác kinh tế, tài chính Việt Nam - Luxembourg

Ngày 12/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn và Bộ trưởng Bộ Tài chính Đại Công quốc Luxembourg Gilles Roth đã cùng ký kết Bản ghi nhớ hợp tác, tạo khuôn khổ để hai bên tăng cường chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, nâng cao năng lực và đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực cùng quan tâm. ------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast de xuat keo dai phieu chuyen vien len 20 ngay su dung ngay tren vneid

PODCAST: Đề xuất kéo dài phiếu chuyển viện lên 20 ngày, sử dụng ngay trên VNeID

Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Thông tư nhằm kéo dài thời hạn sử dụng của phiếu chuyển cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) từ 10 ngày lên 20 ngày kể từ ngày ký và cho phép sử dụng ngay trên ứng dụng VNeID. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Đan Mạch

Sáng ngày 20/10, tại thủ đô Copenhagen, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Nhà vua Frederik X đã dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Đan Mạch.
Bỏ quy định về hợp đồng thương mại, doanh nghiệp có thể gặp vướng mắc khi tranh chấp?

Bỏ quy định về hợp đồng thương mại, doanh nghiệp có thể gặp vướng mắc khi tranh chấp?

Đề xuất bãi bỏ một số quy định về hợp đồng thương mại tại Luật Thương mại nhận được sự quan tâm của đại biểu Quốc hội. Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trao đổi làm rõ thêm nội dung này.
Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở ra cơ hội cho hàng Việt tại các thị trường mới với lợi thế chuỗi cung ứng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và bền vững.
Sửa Luật Điện lực: Tìm “điểm cân bằng” giữa lợi ích nhà đầu tư, Nhà nước và nhân dân

Sửa Luật Điện lực: Tìm “điểm cân bằng” giữa lợi ích nhà đầu tư, Nhà nước và nhân dân

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Điện lực nhằm đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển khoa học công nghệ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Ngày 20/10, tại thủ đô Copenhagen, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Nhà vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X gặp gỡ doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch.
Không lấy biên chế hiện có làm căn cứ xác định vị trí việc làm

Không lấy biên chế hiện có làm căn cứ xác định vị trí việc làm

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu việc xác định vị trí việc làm phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu năng lực, không căn cứ vào tổ chức, biên chế hay ngạch bậc hiện có.
Giảm, tiến tới xóa bù chéo giá điện

Giảm, tiến tới xóa bù chéo giá điện

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực quy định lộ trình giảm và tiến tới xóa bù chéo giữa các nhóm khách hàng sử dụng điện.
Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung 4 luật về thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tạo đột phá thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tạo đột phá thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên

Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Chính phủ được kỳ vọng sẽ chuyển hóa định hướng chính sách thành những cơ chế cạnh tranh tạo dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ.
Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở ra cơ hội cho hàng Việt tại các thị trường mới với lợi thế chuỗi cung ứng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch

Ngày 20/10, tại thủ đô Copenhagen, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Nhà vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X gặp gỡ doanh nghiệp tiêu biểu của Đan Mạch.
Thương mại Việt Nam - Singapore lập kỷ lục mới sau 9 tháng năm 2026

Thương mại Việt Nam - Singapore lập kỷ lục mới sau 9 tháng năm 2026

Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Singapore trong 9 tháng năm 2026 đạt gần 42,8 tỷ đô la Singapore (SGD), tăng 46,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Dự kiến công bố 12 dự án đầu tư, tổng vốn hơn 13 tỷ USD

Dự kiến công bố 12 dự án đầu tư, tổng vốn hơn 13 tỷ USD

Dự kiến có 12 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn hơn 13 tỷ USD sẽ được công bố, trao cho nhà đầu tư ngay sau phiên đối thoạt của Thủ tướng chính phủ Lê Minh Hưng tại AEF 2026.
Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Đề xuất cắt giảm 20 thủ tục, điều kiện kinh doanh trong 4 luật về thương mại

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung 4 luật về thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
IMF nâng dự báo tăng trưởng, đánh giá cao sức chống chịu của kinh tế Việt Nam

IMF nâng dự báo tăng trưởng, đánh giá cao sức chống chịu của kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều bất định, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá tích cực về khả năng chống chịu của kinh tế Việt Nam.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tạo đột phá thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tạo đột phá thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên

Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Chính phủ được kỳ vọng sẽ chuyển hóa định hướng chính sách thành những cơ chế cạnh tranh tạo dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ.
EMAGAZINE: Phép thử đối với nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số

EMAGAZINE: Phép thử đối với nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 đang bước vào giai đoạn quyết định khi quý IV phải đạt mức tăng trưởng khoảng 12,5%, sau khi 9 tháng năm đạt 9,01%.
Nguồn cung bất động sản lớn, thanh khoản vẫn chịu áp lực

Nguồn cung bất động sản lớn, thanh khoản vẫn chịu áp lực

Thị trường bất động sản quý III/2026 ghi nhận 31.844 sản phẩm mở bán mới, nhưng lượng giao dịch chỉ đạt 12.520 sản phẩm. Theo VARS, người mua ngày càng thận trọng và có xu hướng lựa chọn sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực.