Sửa đổi Luật Dầu khí: Rà soát cơ chế phân cấp, quản lý hiệu quả vốn nhà nước
![]() |
| Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 11 của Quốc hội về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). |
Tránh tạo ngoại lệ quá mạnh
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, chiều 4/8, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Thảo luận tại Tổ 11 (Đoàn TP. Hải Phòng, Quảng Ngãi), nhiều đại biểu bày tỏ quan tâm đến dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Các đại biểu Quốc hội đánh giá việc sửa đổi Luật là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành dầu khí trong bối cảnh mới, đồng thời góp phần hoàn thiện thể chế, bảo đảm an ninh năng lượng và phù hợp với quá trình chuyển dịch năng lượng. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện một số quy định cụ thể để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đại biểu Phạm Thúy Chinh (đoàn TP. Hải Phòng) cho rằng, nhiều nội dung của dự thảo Luật đã thể hiện quan điểm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các quy định liên quan đến Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), cần tiếp tục rà soát để vừa bảo đảm đặc thù hoạt động dầu khí, vừa bảo đảm quản lý, sử dụng hiệu quả vốn nhà nước.
Đối với quy định về phê duyệt việc sử dụng vốn của PVN, đại biểu đánh giá việc giao Hội đồng thành viên quyết định sử dụng vốn phù hợp với tinh thần của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy định “không phụ thuộc vào mức vốn góp” cần được nghiên cứu thiết kế lại theo hướng không phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nhằm tránh phát sinh cách hiểu tạo ra ngoại lệ quá rộng.
Đối với quy định về xử lý chi phí của PVN, đại biểu đề nghị bổ sung quy định việc hạch toán chi phí điều tra cơ bản được thực hiện từ lợi nhuận sau thuế theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đối với chi phí đầu tư thất bại, ngoài điều kiện dự án đã kết thúc và được quyết toán chi phí, đại biểu đề nghị bổ sung điều kiện xác định rõ đây là rủi ro khách quan trong hoạt động dầu khí, không phải do vi phạm quản lý, làm thất thoát vốn hoặc cố ý làm trái, qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng khi xử lý các khoản chi phí này.
Quan tâm đến các quy định mới về năng lượng ngoài khơi và hoạt động thu giữ và lưu trữ CO2 (CCS), đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) đề nghị bổ sung nguyên tắc dự án năng lượng ngoài khơi phải phù hợp với quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch phát triển điện lực, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm thuận lợi trong quá trình triển khai.
![]() |
| Đại biểu Phạm Thúy Chinh (đoàn TP. Hải Phòng) tham gia thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). |
Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung tiêu chí định lượng đối với dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao trước khi áp dụng các chính sách ưu đãi; rà soát quy định miễn tiền sử dụng khu vực biển để bảo đảm đồng bộ với pháp luật hiện hành; bổ sung các quy định liên quan đến trách nhiệm sau khi đóng cửa cơ sở lưu giữ CO2, yêu cầu đánh giá tác động môi trường, phạm vi nguồn phát thải được lưu giữ cũng như cơ chế quản lý tín chỉ carbon nhằm tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Ở góc độ quốc phòng, an ninh, đại biểu Trần Thị Hồng An (đoàn Quảng Ngãi) đề nghị tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế kiểm soát nhà đầu tư nước ngoài đối với các dự án dầu khí tại khu vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh; quy định nguyên tắc quản lý, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu địa chất, địa vật lý và dữ liệu dầu khí. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế huy động, trưng dụng các công trình, phương tiện dầu khí phục vụ quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn và ứng phó sự cố theo quy định của pháp luật.
Khía cạnh khác, đại biểu Nguyễn Văn Tiến (đoàn TP. Hải Phòng) cho biết, khoản 2 Điều 31 dự thảo Luật quy định việc chuyển mục đích sử dụng rừng đối với dự án phát triển mỏ dầu khí trên đất liền, dự án phát triển mỏ theo chuỗi giá trị dầu khí được thực hiện theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp và đất đai.
Theo đại biểu, trên thực tế, các dự án dầu khí trên đất liền có thể đi qua khu bảo tồn thiên nhiên, hành lang bảo vệ bờ biển, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh hoặc các khu vực khảo cổ. Vì vậy, việc chỉ dẫn chiếu Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai là chưa đầy đủ. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định theo hướng việc chuyển mục đích sử dụng rừng được thực hiện theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Hạch toán theo hợp đồng dầu khí
Phát biểu tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng (đoàn TP. Hải Phòng) cho biết, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở Luật Dầu khí năm 2022, đồng thời bám sát Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam, chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội và nghị quyết của Chính phủ về thông qua các nhóm chính sách xây dựng dự thảo Luật.
Theo Bộ trưởng, mặc dù Luật Dầu khí năm 2022 được ban hành đúng thời điểm và có nhiều điểm tiến bộ, song yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Trong đó, nhu cầu năng lượng phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số ngày càng tăng; các mỏ dầu khí hiện hữu suy giảm sản lượng nhanh, trong khi tiềm năng khai thác chủ yếu nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với điều kiện kỹ thuật phức tạp hơn, đòi hỏi cơ chế đủ sức thu hút đầu tư. Bên cạnh đó là yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật tập trung sửa đổi theo 5 nhóm chính sách. Một trong những nội dung mới là mở rộng phạm vi điều chỉnh của hoạt động dầu khí, bổ sung hoạt động thu giữ và lưu trữ CO2 (CCS); phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí trong phạm vi diện tích hợp đồng dầu khí; đồng thời bổ sung quy định đối với các dạng năng lượng dầu khí phi truyền thống như hydrogen tự nhiên.
Cùng với đó, dự thảo đổi mới mô hình quản trị theo hướng phân định rõ thẩm quyền giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và PVN. Theo Bộ trưởng, Chính phủ và Thủ tướng quyết định các vấn đề vĩ mô, liên quan đến an ninh quốc gia và cơ chế ưu đãi; Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước; còn PVN thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà và nhà đầu tư theo các thẩm quyền được luật quy định.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng (đoàn TP. Hải Phòng) phát biểu tại phiên họp. |
Dự thảo cũng bổ sung các quy định về hợp đồng dầu khí, cơ chế mở rộng, điều chỉnh và kéo dài hợp đồng; chính sách ưu đãi; định hướng phát triển hoạt động CCS; khung pháp lý đối với dự án dầu khí theo chuỗi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Theo Bộ trưởng, các nội dung này nhằm tạo điều kiện để triển khai hoạt động dầu khí nhanh hơn, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời tạo cơ chế phù hợp đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và mỏ tận thu.
Giải trình về ý kiến liên quan đến việc không giao ngay các mỏ tận thu cho PVN, Bộ trưởng cho biết, quy định này nhằm tiếp tục tạo cơ hội cho các nhà thầu dầu khí khác tham gia đầu tư, tận dụng nguồn lực xã hội. Chỉ khi không có nhà thầu tham gia mới sử dụng nguồn lực của Nhà nước thông qua PVN.
Đối với ý kiến về vùng an toàn dầu khí, Bộ trưởng cho hay, quy định bán kính 500 m được tính từ rìa công trình dầu khí về mọi phía, kể cả đối với phương tiện nổi phục vụ thả neo; còn phạm vi 2 hải lý được tính từ rìa công trình, bao gồm cả công trình ngầm, phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm an toàn cho hoạt động dầu khí ngoài khơi.
Liên quan đến việc chuyển nhượng quyền tham gia hợp đồng dầu khí, Bộ trưởng thông tin, dự thảo Luật vẫn bảo đảm cơ chế kiểm soát thông qua quyền ưu tiên mua của PVN. Theo đó, PVN vừa có quyền tham gia từ khi kế hoạch phát triển mỏ được phê duyệt, vừa có quyền ưu tiên mua trước khi nhà thầu thực hiện chuyển nhượng.
Đối với hoạt động thu giữ và lưu trữ CO2, Bộ trưởng cho rằng đây là lĩnh vực cần được khuyến khích nhằm tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn kiệt để lưu giữ carbon, góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và phát triển tăng trưởng xanh. Đồng thời, việc miễn tiền sử dụng khu vực biển đối với các công trình phục vụ CCS được xây dựng trên cơ sở đặc thù của hoạt động dầu khí và kinh nghiệm quốc tế.
Liên quan đến sự đồng bộ giữa dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) và Luật số 68/2025/QH15 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, các quy định về thẩm quyền quyết định đầu tư và sử dụng vốn trong dự thảo được xây dựng trên cơ sở đặc thù của hoạt động dầu khí.
Theo đó, việc phê duyệt Kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí (ODP) được xác định tương đương với phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi nếu có; còn phê duyệt Kế hoạch phát triển mỏ (FDP) tương đương với phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi. Vì vậy, thẩm quyền quyết định đầu tư và quyết định sử dụng vốn cũng được thiết kế tương ứng theo quy trình này.
Cũng theo Bộ trưởng, việc PVN góp vốn trong quá trình thực hiện hợp đồng dầu khí được triển khai trên cơ sở hợp đồng dầu khí đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Căn cứ ODP và FDP, các nhà thầu thực hiện gọi vốn và giải ngân theo quy định của hợp đồng dầu khí, bảo đảm được quản lý chặt chẽ.
Đối với công tác quản lý rủi ro, kế toán và hạch toán, Bộ trưởng cho hay, dự thảo Luật đã dành 1 chương riêng quy định về kiểm toán, kế toán đối với hoạt động dầu khí. Hoạt động dầu khí được hạch toán theo hợp đồng dầu khí, trên cơ sở các khoản chi phí, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu và cơ chế thu hồi chi phí để xác định thu nhập chịu thuế.
Theo Bộ trưởng, đây là đặc thù của lĩnh vực dầu khí, vì vậy có những doanh nghiệp không phát sinh lợi nhuận nhưng vẫn đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước. Do đó, các quy định trong dự thảo vừa bảo đảm phù hợp với Luật số 68, vừa phản ánh đặc thù trong quản trị và hoạt động của ngành dầu khí.
Tin tức khác
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ nhịp tăng trưởng, củng cố trụ đỡ nền kinh tế
Từ khai thác biển sang quản trị không gian biển, mở rộng dư địa tăng trưởng
Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km
Việt Nam - Tanzania mở thêm dư địa hợp tác thương mại, đầu tư
Bức tranh thị trường qua lăng kính Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026
Nâng cấp chuỗi giá trị: Động lực tăng trưởng nhanh và bền vững, kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam
Tháo điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
27 thành viên tham gia Ủy ban Quốc gia APEC 2027
Hoàn thành phương án điều phối vật liệu cho các dự án trọng điểm trước ngày 15/10
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững
Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Siết điều kiện thành lập khu thương mại tự do
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ nhịp tăng trưởng, củng cố trụ đỡ nền kinh tế
Từ khai thác biển sang quản trị không gian biển, mở rộng dư địa tăng trưởng
Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km
Việt Nam - Tanzania mở thêm dư địa hợp tác thương mại, đầu tư
Bức tranh thị trường qua lăng kính Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026
Nâng cấp chuỗi giá trị: Động lực tăng trưởng nhanh và bền vững, kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam
Tháo điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo











