aa

Đa dạng hóa, tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam

20:00 | 03/10/2020
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của đa dạng hóa, tập trung thị trường đến rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam, để bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hướng nghiên cứu này, đồng thời là cơ sở cho một số gợi ý chính sách trong chiến lược đa dạng hóa và quản lý rủi ro. Với mẫu nghiên cứu gồm 21 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2018, kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ, trong khi đó mối quan hệ giữa đa dạng hóa và nguy cơ vỡ nợ chưa được khẳng định.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1. Giới thiệu

Cạnh tranh trong ngành Ngân hàng Việt Nam, đặc biệt với sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2011, đã thúc đẩy xu thế đa dạng hóa của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước thông qua việc mở rộng các hoạt động thu nhập ngoài hoạt động tín dụng truyền thống. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới nhấn mạnh đến ảnh hưởng tích cực của đa dạng hóa đối với rủi ro của NHTM như Stiroh và Rumble (2006), Köhler (2014), Batten và Vo (2016)… Ngược lại, một số tác giả khác (Stiroh, 2004; Goddardvà ctg, 2008; Lepetitvà ctg, 2008; Molyneux và Yip, 2013; Abuzayed, 2018…) đưa ra bằng chứng cho thấy đa dạng hóa làm tăng rủi ro của NHTM.

Khác với một số quốc gia nới lỏng hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường vốn, Việt Nam yêu cầu ngân hàng thương mại tách biệt hoạt động kinh doanh chứng khoán khỏi hoạt động ngân hàng thông qua việc góp vốn, hoặc thành lập công ty con là công ty chứng khoán. Vì vậy, thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại chủ yếu từ các hoạt động dịch vụ thu phí.

Bên cạnh đó, hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) trong ngành Ngân hàng nhằm tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô một mặt đã thúc đẩy xu thế tập trung thị trường trong ngành, qua đó đảm bảo quyền lực thị trường và biên lợi nhuận cho các ngân hàng, tác động giảm rủi ro vỡ nợ, mặt khác gây áp lực đối với các ngân hàng trung ương và ngân sách nhà nước vì nguy cơ “quá quan trọng không thể phá sản”. Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng đã được thực hiện nhưng kết quả chưa thống nhất giữa các nền kinh tế. Trong khi Beck và ctg (2006) cho rằng, tập trung thị trường ngành ngân hàng có mối quan hệ tiêu cực với khủng hoảng tài chính, Yeyati và Micco (2007) lại chứng minh tập trung ngân hàng không có mối quan hệ với rủi ro, còn Jiménez và ctg (2013) lại cung cấp bằng chứng về quan hệ phi tuyến giữa tập trung ngân hàng và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng.

Bài viết này được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của đa dạng hóa, tập trung thị trường đến rủi ro vỡ nợ của các NHTM. Trên cơ sở đó, đề xuất các khuyến nghị liên quan đến chiến lược đa dạng hóa và quản lý rủi ro của của các NHTM.

2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

2.1. Đa dạng hóa và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng

Theo Lepetit và ctg (2008), áp lực cạnh tranh và nới lỏng quy định tại các quốc gia đã thúc đẩy các tổ chức tài chính tập trung vào thu nhập ngoài lãi, bao gồm các dịch vụ có thu phí và các dịch vụ kinh doanh ủy thác, bancassurance và các hoạt động kinh doanh ngoại bảng.

Tác động của đa dạng hóa đến hiệu quả có thể là trực tiếp, thông qua sự khác biệt về lợi nhuận biên giữa các hoạt động từ lãi và ngoài lãi; hoặc gián tiếp, thông qua mức độ đa dạng hóa của mỗi công ty về hai hoạt động này (Goddardvà ctg, 2008).

Đa dạng hóa, tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam - Ảnh 1

Hầu hết các nghiên cứu trước cho thấy, lợi ích của đa dạng hóa do mở rộng phạm vi hoạt động (kinh tế nhờ phạm vi). Đa dạng hóa danh mục đầu tư làm giảm rủi ro vì tương quan thấp giữa các nguồn thu nhập và tính chu kỳ khác nhau của các nguồn thu nhập này (Batten và Vo, 2016). Froot và Stein (1998) cho rằng, đa dạng hóa nhằm phòng ngừa rủi ro vỡ nợ và giảm kiệt quệ tài chính. Đa dạng hóa ảnh hưởng cả lợi nhuận và sự ổn định của ngân hàng, làm giảm rủi ro và kiệt quệ tài chính (Berger và ctg, 1999; Baele và ctg, 2007). Đa dạng hóa mang lại lợi ích cho các tổ chức tín dụng thông qua giảm chi phí giám sát, gia tăng hiệu quả, sử dụng các kỹ năng quản trị tốt hơn (Boyd và Prescott, 1986; Drucker và Puri, 2009).

Ngược lại, một số nghiên cứu cho rằng, đa dạng hóa thu nhập phi truyền thống làm gia tăng biến động của thu nhập. DeYoung và Roland (2001) giải thích từ cạnh tranh cao về hoạt động ngoài lãi, chi phí cố định liên quan đến các hoạt động thu phí và thiếu quy định về hoạt động ngoài lãi. Theo Stiroh (2004), Stiroh và Rumble (2006), mối tương quan cao giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi có thể là kết quả của bán chéo các sản phẩm khác nhau của ngân hàng cho cùng một khách hàng.

Mặc dù, lý thuyết chủ yếu ủng hộ tác động tích cực của đa dạng hóa đến hiệu quả và giảm rủi ro của ngân hàng, nhưng bằng chứng thực nghiệm đa số lại đưa ra kết quả ngược lại.

Stiroh (2004) là một trong những nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng của đa dạng hóa đến rủi ro vỡ nợ của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu trên mẫu ngân hàng Mỹ cho thấy, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi làm tăng rủi ro (thông qua Z-score và Sharpe ratio), được giải thích bởi tương quan cao giữa thu nhập từ phí với thu nhập lãi thuần. Goddardvà ctg (2008) từ mẫu các quỹ tín dụng Mỹ khẳng định, mối quan hệ tích cực giữa đa dạng hóa và rủi ro. Molyneux và Yip (2013) khi nghiên cứu hành vi đa dạng hóa của ngân hàng tại các quốc gia Hồi giáo đã rút ra kết luận về tương quan dương giữa đa dạng hóa và rủi ro vỡ nợ, và tác động này mạnh mẽ hơn lại các ngân hàng Hồi giáo (Islamic bank). Lepetit và ctg (2008) từ đối tượng khảo sát là các ngân hàng châu Âu đã rút ra nhận định về các ngân hàng mở rộng hoạt động ngoài lãi có rủi ro cao hơn và rủi ro vợ nợ cao hơn các ngân hàng dựa vào hoạt động tín dụng. Abuzayed và ctg (2018) đã xem xét mẫu ngân hàng tại 6 quốc gia Hội đồng hợp tác vùng vịnh từ 2001-2014 cũng đưa đến kết quả tương tự.

Ngược lại, một số bằng chứng cho thấy, đa dạng hóa có tác động làm giảm rủi ro của ngân hàng. Stiroh và Rumble (2006) khi nghiên cứu về đa dạng hóa của các công ty mẹ ngành tài chính tại Mỹ đã cho bằng chứng về đa dạng hóa làm giảm rủi ro. Köhler (2014) đã nghiên cứu các ngân hàng tại Đức gồm ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng hợp tác và ngân hàng khác (định hướng bán lẻ và đầu tư) và cho thấy, hoạt động thu phí dịch vụ và thu từ kinh doanh của hầu hết ngân hàng (trừ ngân hàng định hướng đầu tư) có quan hệ tiêu cực với rủi ro.

Các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề này vẫn chưa được khai thác nhiều. Nguyễn Quang Khải (2016) nghiên cứu các NHTM giai đoạn 2008-2015 và cung cấp bằng chứng về mối quan hệ cùng chiều giữa đa dạng hóa và rủi ro. Batten and Vo (2016) nghiên cứu trên mẫu các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006-2014 cho thấy, thu nhập ngoài lãi thuần nghịch biến với lợi nhuận điều chỉnh bởi rủi ro, tức là đồng biến với rủi ro. Võ Trường Đi (2017) xem xét cấu trúc đa dạng hóa tài sản và nguồn vốn (thông qua chỉ số HHI tính trên tỷ lệ tiền gửi và tỷ lệ cho vay) của 25 NHTM từ năm 2001 đến 2015 và rút ra nhận xét về ảnh hưởng tiêu cực của đa dạng hóa tín dụng và tiền gửi đến lợi nhuận của ngân hàng.

2.2. Tập trung thị trường ngân hàng và rủi ro vỡ nợ

Các hoạt động hợp nhất và sáp nhập giữa các ngân hàng dẫn đến tập trung thị trường trong ngành ngân hàng. Một hệ thống ngân hàng tập trung có thể đảm bảo quyền lực thị trường và biên lợi nhuận cho các ngân hàng, qua đó giảm rủi ro vỡ nợ; đồng thời làm giảm chi phí giám sát và ngăn ngừa khủng hoảng tài chính (Allen và Gale, 2004). Ngược lại, một hệ thống ngân hàng tập trung quá mức có thể dẫn đến nguy cơ “quá quan trọng không thể phá sản” (Mishkin, 1999). Một hệ thống ngân hàng phi tập trung kéo theo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ có thể làm giảm hiệu quả hoạt động và tăng chi phí của các NHTM trong nước (Berger và Hannan, 1998), làm tăng nguy cơ kiệt quệ tài chính.

Đa dạng hóa, tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam - Ảnh 2

Beck và ctg (2006) cung cấp bằng chứng về việc tập trung ngân hàng có mối quan hệ tiêu cực với khủng hoảng tài chính, qua đó chứng minh vai trò tích cực của tập trung ngân hàng trong quản lý rủi ro. Yeyati và Micco (2007) khi nghiên cứu ngành ngân hàng tại các nước châu Mỹ Latinh đã cho thấy, tập trung ngân hàng không có mối quan hệ với rủi ro. Jiménez và ctg (2013) từ mẫu các ngân hàng Tây Ban Nha đã chứng minh quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược giữa tập trung ngân hàng và rủi ro vỡ nợ, được giải thích bằng tính kinh tế nhờ quy mô trong hoạt động ngân hàng.

Như vậy, các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và trên thế giới, nhưng chưa tập trung nhiều vào giai đoạn sau khủng hoảng tài chính 2007-2009, là giai đoạn gia tăng quy định giám sát ngân hàng trên thế giới. Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa đa dạng hóa, tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của các NHTM Việt Nam giai đoạn cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, khởi đầu từ năm 2011.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Giả thuyết đầu tiên được đề xuất liên quan đến mối quan hệ đồng biến giữa đa dạng hóa và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng Việt Nam. Khác với một số quốc gia nới lỏng hoạt động của NHTM trên thị trường vốn, Việt Nam yêu cầu NHTM tách biệt hoạt động kinh doanh chứng khoán khỏi hoạt động ngân hàng (bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán) thông qua việc góp vốn, hoặc thành lập công ty con là công ty chứng khoán. Vì vậy, thu nhập ngoài lãi của NHTM chủ yếu đến từ các hoạt động dịch vụ thu phí, có tương quan cao với thu nhập lãi thuần thông qua hoạt động bán chéo sản phẩm. Thực tiễn này được ủng hộ bởi nhiều bằng chứng thực nghiệm trước, đặc biệt của Stiroh (2004), Lepetit và ctg (2008) hay Batten và Vo (2016).

Về mối quan hệ giữa tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng tại Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết về mối quan hệ nghịch biến giữa hai yếu tố này. So với các ngân hàng trên thế giới, quy mô các ngân hàng Việt Nam còn tương đối nhỏ, dẫn đến lợi ích của tập trung thị trường lớn hơn chi phí tiềm ẩn của nó. Thực trạng này phù hợp với lập luận của Allen và Gale (2004) và bằng chứng thực nghiệm của Beck và ctg (2006).

Mô hình nghiên cứu kế thừa từ Abuzayed và ctg (2018) và Yeyati và Micco (2007), phát biểu dưới dạng tổng quát:

Yit=α+β0 Y(it-1)+β1DIVit+β2NON2it+β3CONCt+γXit+εit

Trong đó Yit¬ là rủi ro vỡ nợ của NHTM i tại năm t; DIVitvà NON2it đo lường mức độ đa dạng hóa và bình phương tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của NHTM i tại năm t; CONCt đo lường mức độ tập trung ngành ngân hàng tại năm t; Xit là tập hợp các biến kiểm soát gồm các đặc tính của ngân hàng (tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ tiền gửi, hiệu quả chi phí, tăng trưởng tài sản) và môi trường vĩ mô (tăng trưởng GDP và lạm phát).

3.2. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu lấy từ báo cáo tài chính hàng năm được kiểm toán, gồm 21 NHTM Việt Nam và dữ liệu kinh tế vĩ mô từ Tổng cục Thống kê. Giai đoạn thu thập dữ liệu từ 2009 đến 2018, trong đó số liệu các năm 2009-2011 hỗ trợ tính độ lệch chuẩn của ROA và dùng cho biến trễ của biến phụ thuộc. Do đó, dữ liệu nghiên cứu bao gồm 21 ngân hàng trong 7 năm, tạo thành 147 quan sát, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng.

3.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

Các tác giả lần lượt tiến hành hồi quy gộp (Pooled OLS), hồi quy hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Các kiểm định phù hợp được thực hiện nhằm lựa chọn hồi quy phù hợp. Theo Campa và Kedia (2002), đa dạng hóa là nội sinh và dẫn đến các ước lượng dữ liệu chéo có thể bị chệch (biased). Kế thừa Abuzayed và ctg (2018), chúng tôi khắc phục hiện tượng nội sinh và vi phạm các giả định hồi quy khác thông qua ước lượng GMM bảng động.

4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Do có hệ số tương quan cao giữa 2 biến GDP và CONC, các tác giả quyết định giữ lại biến CONC vì là đối tượng nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu còn lại 10 biến giải thích.

Đa dạng hóa, tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam - Ảnh 3

Thống kê từ Bảng 2 cho thấy, rủi ro vỡ nợ bình quân là 7,22 (nhỏ nhất là 0,15 và lớn nhất là 98,5). Mức độ đa dạng hóa bình quân thông qua thước đo DIV là 26% (cao nhất là 50%, khi tỷ trọng thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi bằng nhau; thấp nhất bằng -65,3% khi thu nhập ngoài lãi bị âm làm cho tỷ lệ NII/NOI lớn hơn 1). Với thước đo đa dạng hóa là bình phương tỷ trọng thu nhập ngoài lãi (NON2), giá trị bình quân là 0,05; lớn nhất là 0,64 – cho thấy, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi rất thấp trong tổng thu nhập hoạt động của NHTM. Mức độ tập trung thị trường thông qua tỷ trọng tài sản của 5 NHTM lớn nhất ổn định trên 50%.

Trong các hồi quy đã sử dụng, hồi quy hiệu ứng cố định được xem là phù hợp nhất với đặc tính dữ liệu, nhưng tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Hiện tượng nội sinh về lý thuyết theo Campa và Kedia (2002) không được phát hiện trên mẫu dữ liệu. Các tác giả khắc phục bằng GLS với tùy chọn panels(h).

Bảng 3 bên dưới trình bày kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và GLS. Kết quả cho thấy, hệ số hồi quy giữa CONC và ZSCORE dương với mức ý nghĩa thống kê 5%, nghĩa là giữa tập trung thị trường và rủi ro vỡ nợ của NHTM có mối quan hệ nghịch biến, xác nhận giả thuyết nghiên cứu 2 của các tác giả. Kết quả này phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước của Allen và Gale (2004), Beck và ctg (2006).

Mặc dù, 2 biến DIV và NON2 có tương quan âm với ZSCORE, phù hợp về dấu tác động (đa dạng hóa có tác động cùng chiều với rủi ro vỡ nợ), nhưng chưa đạt mức có ý nghĩa thống kê cho thấy, giả thuyết nghiên cứu 1 của các tác giả chưa được xác nhận trên mẫu dữ liệu nghiên cứu.

Trong số các biến kiểm soát, LA và CIR có tương quan âm có ý nghĩa với biến phụ thuộc cho thấy, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ chi phí trên thu nhập hoạt động có tác động tích cực đến rủi ro vỡ nợ của NHTM.

6. Kết luận

Nhằm kiểm tra tác động của đa dạng hóa và tập trung thị trường đến rủi ro vỡ nợ của các NHTM Việt Nam, các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu 21 ngân hàng trong giai đoạn 2012-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tập trung thị trường có tác động làm giảm rủi ro vỡ nợ của các NHTM Việt Nam. Trong khi đó, ảnh hưởng của đa dạng hóa đến rủi ro vỡ nợ là chưa được khẳng định trên mẫu dữ liệu.

Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho một số gợi ý đối với NHNN và NHTM trong hoạt động quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro vỡ nợ:

Thứ nhất, tiếp tục gia tăng quy mô cho các NHTM hàng đầu thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu, để khai thác lợi thế về biên lợi nhuận, giảm chi phí giám sát và ngăn ngừa khủng hoảng tài chính.

Thứ hai, tiếp tục giám sát chặt chẽ tỷ lệ cho vay của NHTM và khống chế dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, theo các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD.

Thứ ba, các NHTM tích cực kiểm soát chi phí hoạt động để hỗ trợ tăng lợi nhuận và khả năng chống đỡ nguy cơ vỡ nợ.

Hạn chế của nghiên cứu là chưa xem xét cơ cấu thu nhập ngoài lãi (thu từ phí dịch vụ, từ mua bán chứng khoán, từ kinh doanh ngoại hối) đến rủi ro vỡ nợ. Đây là gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Trường Đi (2017), Gia tăng lợi nhuận: Góc nhìn của chiến lược đa dạng hóa, rủi ro về mức độ bất ổn định và rủi ro nợ xấu ở các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương - 2017 - no.501 - tr.46-48;

2. Nguyễn Quang Khải (2016), Đa dạng hóa thu nhập và hiệu suất điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, năm 2016 - no.642 - tr.65-67;

3. Abuzayed, B., Al-Fayoumi, N., & Molyneux, P. (2018), Diversification and bank stability in the GCC, Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 57, 17-43;

4. Allen, F., & Gale, D. (2004), Competition and financial stability, Journal of money, credit and banking, 453-480;

5. Baele, L., De Jonghe, O., & Vander Vennet, R. (2007), Does the stock market value bank diversification?, Journal of Banking & Finance, 31(7), 1999-2023;

6. Batten, J. A., & Vo, X. V. (2016), Bank risk shifting and diversification in an emerging market, Risk Management, 18(4), 217-235;

7. Beck, T., Demirgüç-Kunt, A., & Levine, R. (2006), Bank concentration, competition, and crises: First results, Journal of Banking & Finance, 30(5), 1581-1603;

8. Berger, A. N., & Hannan, T. H. (1998), The efficiency cost of market power in the banking industry: A test of the “quiet life” and related hypotheses, Review of Economics and Statistics, 80(3), 454-465;

9. Berger, A. N., Demsetz, R. S., & Strahan, P. E. (1999), The consolidation of the financial services industry: Causes, consequences, and implications for the future, Journal of Banking & Finance, 23(2-4), 135-194;

10. Boyd, J. H., & Prescott, E. C. (1986), Financial intermediary-coalitions, Journal of Economic theory, 38(2), 211-232;

11. Campa, J. M., & Kedia, S. (2002), Explaining the diversification discount, The journal of finance, 57(4), 1731-1762;

12. DeYoung, R., & Roland, K. P. (2001), Product mix and earnings volatility at commercial banks: Evidence from a degree of total leverage model, Journal of Financial Intermediation, 10(1), 54-84;

13. Drucker, S., & Puri, M. (2009). On loan sales, loan contracting, and lending relationships. The Review of Financial Studies, 22(7), 2835-2872;

14. Froot, K. A., & Stein, J. C. (1998), Risk management, capital budgeting, and capital structure policy for financial institutions: an integrated approach. Journal of financial economics, 47(1), 55-82;

15. Goddard, J., McKillop, D., & Wilson, J. O. (2008), The diversification and financial performance of US credit unions. Journal of Banking & Finance, 32(9), 1836-1849.

Tin tức khác

Nhiều ngân hàng có thể hết room tín dụng, quý IV phải giảm tốc giải ngân

Nhiều ngân hàng có thể hết room tín dụng, quý IV phải giảm tốc giải ngân

Theo ước tính của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), một số ngân hàng có thể đã vượt hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 khi tính thêm nghiệp vụ mua hẳn L/C.
Giá vàng hôm nay: Thế giới lùi về sát 4.000 USD, SJC tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay: Thế giới lùi về sát 4.000 USD, SJC tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay tiếp tục chịu áp lực giảm khi vàng miếng SJC lùi về mức 142 triệu đồng/lượng, giá vàng thế giới có thời điểm xuống gần 4.000 USD/ounce.
Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Lãi suất cho vay giảm thêm, USD chờ tín hiệu từ Fed

Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Lãi suất cho vay giảm thêm, USD chờ tín hiệu từ Fed

Ngày 23/10/2026, các ngân hàng tiếp tục triển khai những gói tín dụng ưu đãi và giảm lãi suất. Tỷ giá VND/USD tại các ngân hàng chờ dữ liệu kinh tế mới của Mỹ.
AI ngày càng thông minh, ngân hàng đối mặt những rủi ro mới

AI ngày càng thông minh, ngân hàng đối mặt những rủi ro mới

AI đang giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động, nhưng công nghệ này cũng có thể bị lợi dụng để thực hiện các cuộc tấn công mạng.
SHB nhận Giải thưởng Chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc (STP Award) từ Citibank

SHB nhận Giải thưởng Chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc (STP Award) từ Citibank

Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) vừa được Citibank trao tặng Giải thưởng Chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc (Straight Through Processing - STP Award).
Giá vàng hôm nay: SJC chững lại sau đợt giảm sâu, thế giới phục hồi

Giá vàng hôm nay: SJC chững lại sau đợt giảm sâu, thế giới phục hồi

Giá vàng hôm nay (22/10) tại thị trường trong nước tạm thời đi ngang sau nhiều phiên giảm liên tiếp, với giá bán vàng miếng SJC ở mức 142,3 triệu đồng/lượng.
Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Lãi tiết kiệm tiếp tục hạ, USD cũng giảm

Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Lãi tiết kiệm tiếp tục hạ, USD cũng giảm

Ngày 22/10/2026, thêm nhiều ngân hàng giảm lãi suất huy động, có nơi điều chỉnh tới 0,7 điểm phần trăm. Cùng chiều, tỷ giá giảm so với phiên trước.
Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi, ngân hàng nào không giảm lãi suất có thể bị hạ chỉ tiêu tín dụng

Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi, ngân hàng nào không giảm lãi suất có thể bị hạ chỉ tiêu tín dụng

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm thực chất lãi suất, đồng thời theo dõi lãi suất bình quân các giao dịch phát sinh mới.
Xem thêm
video hanh trinh 30 nam nganh chung khoan viet nam

VIDEO: Hành trình 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP, thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Một cơ quan quản lý nhà nước ra đời để chuẩn bị cho một thị trường còn chưa hiện hữu tại Việt Nam. 30 năm sau, thị trường đã kết nối nguồn vốn với nhu cầu đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp và mở rộng cơ hội tham gia cho hàng triệu nhà đầu tư. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: / www.financeplus.vn TikTok: / tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: / @kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày. --------------------------------------
video thu ngan sach gan 400 000 ty dong nganh hai quan tang toc so hoa cho chang nuoc rut 2026

VIDEO: Thu ngân sách gần 400.000 tỷ đồng: Ngành Hải quan tăng tốc số hóa cho chặng nước rút 2026

Ngành Hải quan vừa ghi nhận những kết quả vô cùng ấn tượng trong 9 tháng năm 2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 888,03 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. ---------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
video nganh thue ngan chan vi pham hoa don bang cong nghe phan tich du lieu lon

VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn

Hành vi của các doanh nghiệp "ma" xuất khống hóa đơn không chỉ làm thất thu nghiêm trọng ngân sách nhà nước mà còn đẩy nhiều doanh nghiệp làm ăn chân chính vào rủi ro pháp lý lớn khi vô tình sử dụng hóa đơn đầu vào bất hợp pháp. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast doanh nghiep chuyen phat gap rut nang cap he thong theo thong tu 142

PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142

Thưa quý vị, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 142/2026/TT-BTC, chính thức xác lập hạ tầng định danh, xác thực điện tử và chuẩn hóa dữ liệu cho toàn bộ hàng hóa qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. ---------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
podcast quyet liet chong hang gia online tu xu ly tai khoan ao den niem phong kho thuc

PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực

Sự bùng nổ của thương mại điện tử đang kéo theo làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của hàng giả, hàng nhái và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lên môi trường số với thủ đoạn ngày càng ẩn danh, tinh vi. -------------------------------------------------- Cập nhật nhanh, chính xác các thông tin về kinh tế, tài chính, chính sách và thị trường trên hệ sinh thái truyền thông của Tạp chí Kinh tế - Tài chính. Website: https://tapchikinhtetaichinh.vn Facebook: https://www.facebook.com/www.FinancePlus.vn TikTok: https://www.tiktok.com/@tapchikinhtetaichinh ▶️ YouTube: https://www.youtube.com/@kinhtetaichinhonline Theo dõi để không bỏ lỡ những thông tin kinh tế, tài chính mới nhất mỗi ngày.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Thủ tướng Vương quốc Bỉ Bart De Wever

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Thủ tướng Vương quốc Bỉ Bart De Wever

Ngày 23/10/2026, tại thủ đô Brussels, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự Lễ đón chính thức và có cuộc hội đàm với Thủ tướng Bỉ Bart De Wever.
Toàn văn Phát biểu chính sách tại Viện Quan hệ Quốc tế Hoàng gia Egmont của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Toàn văn Phát biểu chính sách tại Viện Quan hệ Quốc tế Hoàng gia Egmont của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Tạp chí Kinh tế - Tài chính trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chính sách tại Viện Quan hệ Quốc tế Hoàng gia Egmont của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm chính thức Vương quốc Bỉ

Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm chính thức Vương quốc Bỉ

Thủ tướng Vương quốc Bỉ Bart De Wever chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Bỉ.
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm, kéo nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường

Đưa doanh nghiệp vào trung tâm, kéo nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường

Liên kết viện, trường với doanh nghiệp còn nhiều điểm nghẽn, khiến kết quả nghiên cứu khó ra thị trường. Chính phủ yêu cầu chuyển mạnh từ “đề xuất đề tài” sang “đặt hàng sản phẩm”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Nhà vua Vương quốc Bỉ Philippe

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Nhà vua Vương quốc Bỉ Philippe

Ngày 23/10, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân hội kiến với Nhà vua Bỉ Philippe và Hoàng hậu.
Miễn thuế suất ăn trường học, bệnh viện: Chính phủ đánh giá khả thi

Miễn thuế suất ăn trường học, bệnh viện: Chính phủ đánh giá khả thi

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng cho biết, sau khi trao đổi kỹ với các cơ quan liên quan, Chính phủ đánh giá đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh.
"Miễn thuế hay không, an toàn thực phẩm vẫn là ưu tiên hàng đầu" với suất ăn trường học, bệnh viện

"Miễn thuế hay không, an toàn thực phẩm vẫn là ưu tiên hàng đầu" với suất ăn trường học, bệnh viện

Đối với đề xuất miễn thuế thu nhập từ cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng ý nghĩa chính sách lớn hơn số thu ngân sách giảm, dù miễn hay không, an toàn thực phẩm vẫn phải là ưu tiên hàng đầu.
Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế

Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế

Chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mở ra cơ hội làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, tăng cường kết nối kinh tế.
Vinachem và Air Liquide trao Biên bản ghi nhớ hợp tác tăng cường kết nối hợp tác quốc tế về công nghệ

Vinachem và Air Liquide trao Biên bản ghi nhớ hợp tác tăng cường kết nối hợp tác quốc tế về công nghệ

Vinachem và Air Liquide trao biên bản ghi nhớ hợp tác trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Tăng trưởng 2 con số: Mở rộng dư địa huy động tài lực

Tăng trưởng 2 con số: Mở rộng dư địa huy động tài lực

Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi mở rộng nguồn vốn, phát triển thị trường vốn, thu hút tài chính xanh quốc tế và khơi thông nguồn lực tồn đọng.
Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế

Việt Nam - Bỉ: Làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác kinh tế

Chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mở ra cơ hội làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, tăng cường kết nối kinh tế.
Hơn 60 đặc sản Gia Lai, Quảng Ngãi lên kệ chương trình Sức sống hàng Việt

Hơn 60 đặc sản Gia Lai, Quảng Ngãi lên kệ chương trình Sức sống hàng Việt

Sáng ngày 23/10, chương trình “Sức sống hàng Việt” số 15 với chủ đề “Bài ca Tây Nguyên” khai mạc tại số 62 Tràng Tiền, Hà Nội.
Công bố Bảng xếp hạng doanh nghiệp PROFIT500 và Top 10, Top 5 Công ty uy tín một số ngành trọng điểm năm 2026

Công bố Bảng xếp hạng doanh nghiệp PROFIT500 và Top 10, Top 5 Công ty uy tín một số ngành trọng điểm năm 2026

Chính thức công bố Bảng xếp hạng doanh nghiệp PROFIT500 và Top 10, Top 5 Công ty uy tín một số ngành trọng điểm năm 2026 ghi nhận thành tựu của các doanh nghiệp
Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu

Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu

Xuất khẩu cà phê Việt Nam niên vụ 2025–2026 đạt khoảng 1,8 triệu tấn, mang về 8,5 tỷ USD.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Cảng Antwerp-Bruges (Vương quốc Bỉ)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Cảng Antwerp-Bruges (Vương quốc Bỉ)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đi thăm Cảng Antwerp-Bruges ở vùng Flanders, tỉnh Antwerp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc gặp với Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen.
Xuất khẩu tôm Việt Nam: Đổi mới để giữ vững vị thế, mở rộng thị trường

Xuất khẩu tôm Việt Nam: Đổi mới để giữ vững vị thế, mở rộng thị trường

Xuất khẩu tôm Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, nhưng những thay đổi về nhu cầu, sức mua và tiêu chuẩn tại các thị trường chủ lực đang đặt ra yêu cầu đổi mới. Để giữ vững vị thế, doanh nghiệp cần điều chỉnh chiến lược theo từng thị trường, đa dạng hóa sản ph
Những điểm mất cân đối cần tháo gỡ để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Những điểm mất cân đối cần tháo gỡ để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khơi thông nguồn lực tăng trưởng đòi hỏi phối hợp chính sách tiền tệ, nâng hiệu quả đầu tư công và tăng khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp trong nước.