Thương mại hóa công nghệ sinh học để tạo động lực tăng trưởng kinh tế
![]() |
| TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu khai mạc. |
Kinh tế sinh học và dư địa đóng góp cho tăng trưởng
Ngày 15/10, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp với Cục Thông tin và Thống kê (NATIS - Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số”.
Các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện doanh nghiệp đã tập trung thảo luận về tiềm năng phát triển kinh tế sinh học tại Việt Nam, những rào cản trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu và giải pháp thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu, sản xuất với thị trường.
Theo thông tin được chia sẻ tại Hội thảo, quy mô kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5.000 tỷ USD và được dự báo tăng lên 30.000 tỷ USD vào năm 2050. Lĩnh vực này đang mở rộng phạm vi ứng dụng, từ y dược, nông nghiệp, chế biến thực phẩm đến công nghệ gen, liệu pháp tế bào, sinh học tổng hợp và nhiều ngành sản xuất, dịch vụ khác.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa có số liệu chính thức về quy mô kinh tế sinh học, lĩnh vực này được đánh giá có nhiều lợi thế phát triển nhờ nguồn gen bản địa phong phú, mức độ đa dạng sinh học cao, nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm sinh học dồi dào. Tuy nhiên, mức độ đóng góp trực tiếp của kinh tế sinh học vào GDP vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng các mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên hóa thạch hoặc lao động giá rẻ không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.
Theo ông, kinh tế sinh học, dựa trên việc sáng tạo, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học tái tạo, đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới. Công nghệ sinh học không chỉ góp phần tạo ra phương thức sản xuất thân thiện với môi trường mà còn thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Định hướng này đã được xác lập tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới. Nghị quyết xác định công nghệ sinh học là ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn.
Theo PGS. TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, ngành công nghệ sinh học đóng góp khoảng 7% vào tăng trưởng GDP và đến năm 2045 đạt từ 10 - 15% GDP.
Để cụ thể hóa định hướng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 189/NQ-CP, phân công nhiệm vụ cho các ngành, lĩnh vực có khả năng tạo động lực tăng trưởng, trong đó có công nghệ sinh học chế biến thuộc lĩnh vực công thương và nông nghiệp.
Theo các chuyên gia, cùng với việc phát huy lợi thế sẵn có, yêu cầu quan trọng là đưa các kết quả nghiên cứu công nghệ sinh học vào sản xuất, hình thành sản phẩm có giá trị thương mại và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Một trong những vấn đề được các chuyên gia tập trung phân tích tại hội thảo là khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Mặc dù Việt Nam đã có những kết quả nghiên cứu công nghệ sinh học đáng chú ý, quá trình chuyển hóa thành sản phẩm thương mại vẫn gặp nhiều khó khăn.
![]() |
| Thương mại hóa công nghệ sinh học để tạo động lực tăng trưởng kinh tế |
PGS. TS. Phí Quyết Tiến chỉ ra ba điểm nghẽn lớn trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ sinh học.
Thứ nhất là thiếu cơ chế đặt hàng dài hạn, khiến các nghiên cứu còn phân mảnh, chưa được đầu tư tập trung để tạo ra sản phẩm ứng dụng hoàn chỉnh. Thứ hai, liên kết giữa các viện nghiên cứu và trường đại học chưa đạt hiệu quả cao, một số hoạt động hợp tác vẫn mang tính hình thức.
Điểm nghẽn thứ ba nằm ở giai đoạn mở rộng quy mô sản xuất, thường được gọi là “thung lũng chết” trong thương mại hóa công nghệ. Nhiều sản phẩm đạt kết quả tốt trong phòng thí nghiệm nhưng gặp khó khăn khi chuyển sang sản xuất thương mại.
Theo ông Tiến, để vượt qua giai đoạn này, sản phẩm cần được chuẩn hóa, nâng cấp quy mô sản xuất, chuyển giao công nghệ, định giá và thương mại hóa thành các sản phẩm tài chính.
Quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất phải trải qua nhiều bước, từ xác định công nghệ cốt lõi, chuẩn hóa quy trình, thử nghiệm ở quy mô bán công nghiệp đến chuyển giao cho doanh nghiệp tiếp nhận, vận hành và điều chỉnh. Trong đó, nhu cầu đặt hàng và phản hồi từ thị trường có vai trò quan trọng đối với việc xác định các ưu tiên nghiên cứu.
Thực tế, Việt Nam có thế mạnh trong công nghệ sinh học nông nghiệp, thủy sản, các chế phẩm vi sinh và công nghệ tạo giống chính xác. Một số công nghệ đã được nghiên cứu, hoàn thiện và sẵn sàng chuyển giao thương mại.
Tuy nhiên, những công nghệ mới như chỉnh sửa gen vẫn gặp vướng mắc về hành lang pháp lý. Chẳng hạn, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công giống lúa phục hồi alen RC cho hạt màu đỏ, nhưng việc thử nghiệm mô hình và đưa sản phẩm ra thị trường còn đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế.
Từ thực tiễn này, PGS.TS. Phí Quyết Tiến cho rằng cần nhận diện rõ các công nghệ chiến lược, xác định hướng phát triển cụ thể, đồng thời chuẩn bị hành lang pháp lý cho những công nghệ mới.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tin sinh học và công nghệ giải mã hệ gen cũng mở ra những hướng phát triển mới. Đặc biệt, dữ liệu sinh học có khả năng được thương mại hóa thành tài sản tài chính, nhưng phải gắn với yêu cầu quản trị dữ liệu, bảo đảm an ninh quốc gia và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Ở góc độ chính sách, ông Vũ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, cho biết tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa trên thế giới hiện khoảng 5%, trong khi Việt Nam mới đạt mức dưới 1%.
Theo ông, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ thương mại hóa sáng chế của Việt Nam đạt 8%. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp và nhà khoa học phải tăng cường hợp tác, thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Liên kết doanh nghiệp để đưa sản phẩm ra thị trường
Để thúc đẩy thương mại hóa công nghệ sinh học, các chuyên gia cho rằng cần thay đổi phương thức hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, chuyển trọng tâm từ chuyển giao kết quả nghiên cứu sang cùng phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.
PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, đề xuất ba chủ thể cùng tham gia một hành trình nhưng cần thay đổi vai trò.
Theo đó, nhà khoa học cần chuyển từ người bán quy trình, bán kết quả nghiên cứu sang người cung cấp giải pháp. Doanh nghiệp không chỉ mua máy móc, công nghệ mà phải xác định rõ bài toán sản xuất, kinh doanh để tìm đối tác đồng hành.
Trong khi đó, Nhà nước cần chuyển từ tài trợ đề tài nghiên cứu sang chia sẻ rủi ro ở giai đoạn chạy thử và thử nghiệm thị trường, trong đó có việc hỗ trợ hình thành các nền tảng dùng chung để nhiều doanh nghiệp có thể thử nghiệm trước khi quyết định đầu tư.
“Các bên hãy cùng nhau tạo ra sản phẩm có đơn hàng và tạo cho doanh nghiệp năng lực giao hàng. Bởi nếu chỉ chuyển giao, doanh nghiệp nhận rồi cũng rất khó phát triển, rất ít doanh nghiệp làm được”, PGS.TS. Nguyễn Minh Tân nhấn mạnh.
ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cũng cho rằng cả nhà khoa học và doanh nghiệp đều mong muốn đưa sản phẩm ra thị trường. Tuy nhiên, sự khác biệt về tư duy và cách tiếp cận khiến hai bên chưa dễ tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, cần có những tổ chức, cá nhân đóng vai trò trung gian kết nối, giúp hai bên hiểu rõ nhu cầu và khả năng của nhau.
![]() |
| TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex. |
Từ góc nhìn doanh nghiệp, TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex, chia sẻ câu chuyện về những cơ hội xuất khẩu bị bỏ lỡ trong giai đoạn dịch Covid-19.
Thời điểm đó, doanh nghiệp đã phát triển bộ kit xét nghiệm, được đưa vào danh mục giải pháp ứng phó khẩn cấp liên quan đến WHO và là một trong 15 bộ kit đầu tiên trên thế giới có kết quả thực nghiệm lâm sàng, theo thông tin bà Hà cung cấp.
Mặc dù nhận được nhiều đơn hàng và đề nghị hợp tác từ nước ngoài, Innogenex chưa đủ năng lực đáp ứng, từ hướng dẫn sử dụng sản phẩm, vận chuyển xuyên biên giới đến bảo quản và kiểm soát chất lượng.
Theo bà Hà, nếu có một hệ sinh thái với sự tham gia của các doanh nghiệp logistics, đơn vị chuyển giao công nghệ và các đối tác liên quan, những đơn hàng lớn có thể được phân chia cho nhiều bên cùng thực hiện, qua đó tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể.
“Công nghệ sinh học của mình rất nhiều tiềm năng, nhưng một mình một doanh nghiệp không đủ. Phải cần cả hệ thống lớn vào cuộc để lấy được những đơn hàng rất lớn”, bà Hà chia sẻ.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS.TS. Phí Quyết Tiến nhấn mạnh yêu cầu hình thành cơ chế đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp, kết hợp đồng tài trợ và nghiệm thu theo tiến độ công việc. Một ví dụ là việc Viện Sinh học ký kết hợp tác với Công ty Cổ phần Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed) ngày 2/10, hướng tới đặt hàng và chuyển giao công nghệ trực tiếp.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy yêu cầu tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, đồng thời phát triển hạ tầng thử nghiệm, cơ chế chia sẻ rủi ro và mạng lưới hợp tác. Trọng tâm là đưa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có đơn hàng, có năng lực sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường, qua đó thúc đẩy thương mại hóa công nghệ sinh học và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Tin tức khác
Petrolimex giảm thêm 300 đồng/lít xăng, dầu so với giá điều hành ngày 15/10
Hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc hướng đến chuỗi giá trị cao
Giá xăng, dầu diesel đồng loạt giảm từ 15h ngày 15/10
Hành trình phát triển 97 năm ngành Cao su Việt Nam: Từ nền tảng truyền thống đến những động lực tăng trưởng mới
Tăng cường hợp tác phát triển du lịch mua sắm, mở rộng đầu ra cho hàng Việt
8 nhóm giải pháp nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 10,2%
Khởi công đường Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh vốn hơn 43.000 tỷ đồng đoạn qua Tây Ninh
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
VIDEO: Thúc đẩy hợp tác kinh tế, tài chính Việt Nam - Luxembourg
PODCAST: Đề xuất kéo dài phiếu chuyển viện lên 20 ngày, sử dụng ngay trên VNeID
Thủ tướng Chính phủ: Lấy chuyển biến trong đời sống người dân làm thước đo hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia
Chương trình mục tiêu quốc gia mới: Chuyển mạnh từ quản lý nguồn lực sang đánh giá kết quả thực chất
Sắp diễn ra Tọa đàm 30 năm ngành Chứng khoán Việt Nam: Động lực mới, Vị thế mới, Sức bật mới
Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới bước phát triển mới trong hợp tác thương mại, đầu tư
TP. Hồ Chí Minh: Trang nghiêm lễ viếng, truy điệu và an táng các anh hùng liệt sĩ
Tạo “đường băng thể chế” cho động lực phát triển mới cất cánh
Kiện toàn cơ chế chỉ đạo, điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Tăng cường giám sát, ngăn chặn đầu cơ, trục lợi chính sách nhà ở
Thương mại hóa công nghệ sinh học để tạo động lực tăng trưởng kinh tế
TP. Hồ Chí Minh thưởng công trình hàng trăm tỷ đồng cho các phường giải ngân tốt
Petrolimex giảm thêm 300 đồng/lít xăng, dầu so với giá điều hành ngày 15/10
Hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc hướng đến chuỗi giá trị cao
Giá xăng, dầu diesel đồng loạt giảm từ 15h ngày 15/10
Hành trình phát triển 97 năm ngành Cao su Việt Nam: Từ nền tảng truyền thống đến những động lực tăng trưởng mới
Tăng cường hợp tác phát triển du lịch mua sắm, mở rộng đầu ra cho hàng Việt
8 nhóm giải pháp nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 10,2%













