Bước qua "cánh cửa tiêu chuẩn" để thành nhà cung ứng cấp 1
![]() |
| Doanh nghiệp Việt vẫn đang nỗ lực để vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp FDI. |
Không thiếu cơ hội, thiếu năng lực đáp ứng tiêu chuẩn
Theo phân tích của các chuyên gia Công ty Chứng khoán Mirae Asset, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy “thu hút nhiều” sang “thu hút hiệu quả và chất lượng cao”.
Đáng chú ý, lần đầu tiên Việt Nam lượng hóa mục tiêu phát triển doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI. Đến năm 2030, cả nước phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, trong đó từ 500-1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 1; tỷ lệ nội địa hóa ở các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%.
Đây được xem là bước thay đổi lớn trong tư duy phát triển công nghiệp. Nếu trước đây trọng tâm là thu hút thêm các nhà máy nước ngoài vào Việt Nam thì nay mục tiêu quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp trong nước lớn lên cùng các nhà máy đó. Tuy nhiên, từ cơ hội đến hiện thực vẫn còn một khoảng cách khá lớn.
Theo ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA), nhiều người vẫn cho rằng khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là thiếu đơn hàng. Thực tế hiện nay lại hoàn toàn khác.
Nhiều tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam như Samsung, Toyota, Canon cùng nhiều doanh nghiệp điện tử, cơ khí lớn thường xuyên công bố danh mục hàng trăm, thậm chí hàng nghìn linh kiện cần tìm nhà cung ứng trong nước. Nhu cầu nội địa hóa ngày càng tăng khi các tập đoàn muốn tối ưu chi phí, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và nâng cao tính linh hoạt của chuỗi sản xuất.
“Cơ hội thị trường là có thật. Vấn đề nằm ở chỗ doanh nghiệp Việt Nam có đáp ứng được các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu hay không”, ông Nguyễn Vân nhận định.
Theo ông Vân, để trở thành nhà cung ứng cấp 1 cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp không chỉ cần sản xuất được sản phẩm mà còn phải chứng minh được năng lực quản trị toàn diện. Các yêu cầu hiện nay không dừng ở chất lượng sản phẩm mà còn bao gồm hệ thống quản trị chất lượng, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn lao động, năng lực tài chính và khả năng giao hàng ổn định trong thời gian dài.
“Có những sản phẩm doanh nghiệp phải mất từ 3-5 năm nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, trải qua nhiều vòng đánh giá, thử nghiệm và thẩm định ở nước ngoài trước khi được chấp nhận tham gia chuỗi cung ứng. Không ít doanh nghiệp sản xuất được linh kiện nhưng chưa đạt được độ ổn định về chất lượng hoặc chưa xây dựng được hệ thống quản trị đủ mạnh để khách hàng quốc tế yên tâm đặt hàng lâu dài. Đây mới là khoảng cách lớn nhất hiện nay”, ông Vân cho biết.
Bài toán nâng chuẩn doanh nghiệp
Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ các tập đoàn đa quốc gia đang buộc doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phải thay đổi cách tiếp cận. Nếu trước đây lợi thế cạnh tranh chủ yếu nằm ở chi phí sản xuất, thì hiện nay yếu tố quyết định lại là công nghệ, quản trị, chuyển đổi số, khả năng truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Bà Phạm Như Ý, Giám đốc điều hành Vtech Corporation cho biết, khách hàng FDI hiện không chỉ đánh giá chất lượng sản phẩm mà còn đánh giá toàn bộ quy trình vận hành của doanh nghiệp. Vì vậy, Vtech đã số hóa hoạt động quản lý nguyên vật liệu đầu vào, trong đó toàn bộ vật tư đều được mã hóa và kiểm soát xuyên suốt nhằm bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp cũng ưu tiên lựa chọn các nhà cung cấp nguyên liệu có công nghệ tiên tiến và uy tín quốc tế để bảo đảm chất lượng đầu vào cho sản xuất.
Không chỉ đầu tư cho chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cũng đang đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo và xây dựng mô hình sản xuất xanh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ESG ngày càng phổ biến trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xu hướng này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW và Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035. Theo đó, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa và phát triển bền vững; đồng thời lấy năng lực tham gia chuỗi cung ứng và tỷ lệ nội địa hóa làm thước đo hiệu quả của các chính sách hỗ trợ.
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ khoảng 600 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được tư vấn, đào tạo hệ thống quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế; hỗ trợ 80 doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển và tiếp nhận công nghệ mới, từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp hạt nhân có khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, từ chính sách đến năng lực thực tế của doanh nghiệp vẫn còn một khoảng cách cần được thu hẹp. Ông Vương Đình Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại Hà Nội (IDC Hà Nội) cho rằng, cần xây dựng cơ chế kết nối thường xuyên giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp để các chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả. Trọng tâm trong giai đoạn tới không chỉ là quảng bá sản phẩm hay mở rộng thị trường mà còn là hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm, nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam chuyển từ mục tiêu thu hút FDI sang nâng cao hiệu quả lan tỏa của FDI, bài toán của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phải là nâng chuẩn năng lực để đáp ứng đơn hàng. Khi khoảng cách về công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn quốc tế được thu hẹp, cơ hội trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ thực chất hơn đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Tin tức khác
EVNHCMC tăng tốc hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026
Tài chính doanh nghiệp 24/7: PNJ dự kiến phát hành 550 triệu cổ phiếu, Samsung Electro-Mechanics đầu tư thêm 1,84 tỷ USD tại Việt Nam
Doanh nghiệp logistics đón cơ hội phục hồi lợi nhuận
Tập đoàn 911 phải nộp gần 1,29 tỷ đồng sau kiểm tra thuế
Số hóa toàn diện quy trình đăng ký, quản lý doanh nghiệp
Công bố 499 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026
Tập đoàn TTC và Liên danh NIG - Bsquare mở rộng kết nối quốc tế, gia tăng giá trị hợp tác
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
Kỳ họp thứ hai, Quốc hội dự kiến thông qua 38 luật, 7 nghị quyết
Chính phủ thống nhất nội dung dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật
Phát triển thông tin cơ sở thành hạ tầng số chiến lược của quốc gia
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm xã hội: Mở rộng bao phủ, bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động
TP. Hà Nội: Khởi công Dự án đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên
Điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm logistics quốc tế
Giá điện theo giờ sẽ áp dụng theo lộ trình, hạn chế ảnh hưởng đến người dân
"Làm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển"
Đổi mới tư duy phát triển hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Doanh thu công nghiệp công nghệ số vượt 5,38 triệu tỷ đồng
Lạng Sơn nâng năng lực logistics theo dòng hàng
Mở không gian phát triển mới cho thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam
VIBE 2026: Kích hoạt chuỗi giá trị, mở rộng thị phần cho doanh nghiệp
Khơi thông dòng vốn dài hạn cho các dự án đường bộ cao tốc
Gỡ điểm nghẽn vốn cho 2 dự án cao tốc trọng điểm phía Bắc
Quản lý định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên môi trường số
Đón dòng vốn lớn, lợi nhuận doanh nghiệp khu công nghiệp tăng trưởng 2 con số












