Giá năng lượng, thực phẩm tạo sức ép, nguồn cung trong nước là điểm tựa cuối năm
![]() |
| Nguồn dữ liệu: Cục Thống kê. Thiết kế có sự hỗ trợ của AI. |
Áp lực giá tập trung ở 3 nhóm chính
Diễn biến giá tiêu dùng trong 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy áp lực lên mặt bằng giá cao hơn cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, cao hơn mức tăng 3,27% của 9 tháng năm 2025.
Theo báo cáo tổng quan thị trường giá cả tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), so với cùng kỳ năm trước, CPI tăng nhanh trong những tháng đầu năm, từ 2,53% vào tháng 1 lên 3,35% trong tháng 2; 4,65% trong tháng 3; 5,46% trong tháng 4 và đạt 5,6% vào tháng 5 - mức cao nhất trong 9 tháng.
Sau đó, tốc độ tăng CPI giảm xuống 4,69% trong tháng 6 và 4,45% trong tháng 7, trước khi quay trở lại xu hướng tăng với mức 4,88% trong tháng 8 và 5,08% trong tháng 9.
Riêng tháng 9, CPI tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 4,2% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới, đồng thời một số trường đại học, trường dân lập, tư thục điều chỉnh tăng học phí năm học mới.
Trả lời câu hỏi của phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính về những tác động lên CPI tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 vào ngày 3/10/2026, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê Dịch vụ và Giá (Cục Thống kê) cho biết, áp lực lên mặt bằng giá trong 9 tháng tập trung ở 3 nhóm chính.
Về thuận lợi, nguồn cung hàng hóa trong nước nhìn chung được bảo đảm là một trong những yếu tố giúp hạn chế áp lực tăng giá. Công tác điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là xăng dầu và điện, tiếp tục được Chính phủ thực hiện chủ động. Việc phối hợp chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các giải pháp ổn định thị trường cũng có vai trò quan trọng trong hạn chế tác động bất lợi từ bên ngoài. |
Đứng đầu về mức độ tác động là hàng ăn và dịch vụ ăn uống. Bình quân 9 tháng, chỉ số giá nhóm này tăng 4,72%, làm CPI chung tăng 1,69 điểm phần trăm. Theo bà Nguyễn Thu Oanh, diễn biến này phản ánh tác động của chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công và nhu cầu tiêu dùng trong thời gian qua.
Trong nhóm này, giá thịt lợn tăng 4,46% do nguồn cung hạn chế trong dịp lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao; thịt gia cầm tăng 3,93%. Đáng chú ý, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,14% do chi phí nguyên liệu và dịch vụ tăng.
Áp lực lớn tiếp theo đến từ nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng, với mức tăng 6,68%, làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm. Trong đó, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,07%; nhà ở thuê tăng 4,91%; điện sinh hoạt tăng 4,35%.
Nhóm giao thông tăng 6,06%, tác động làm CPI chung tăng 0,6 điểm phần trăm. Riêng nhiên liệu tăng 10,89%, tác động làm CPI tăng 0,52 điểm phần trăm.
Ngoài 3 nhóm trên, giá giáo dục tăng 3,35%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,61%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,84%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,78%. Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,12%.
Theo bà Nguyễn Thu Oanh, diễn biến 9 tháng cho thấy, áp lực tăng giá đã có sự lan tỏa nhất định, thay vì chỉ tập trung ở một vài nhóm hàng biến động mạnh. Tuy nhiên, mức tăng hiện nay vẫn chịu tác động đáng kể từ những nhóm đặc thù như năng lượng và thực phẩm.
Điều này cũng thể hiện qua chênh lệch giữa CPI và lạm phát cơ bản. Bình quân 9 tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,26%, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI chung.
Dư địa cho mục tiêu 4,5% không còn nhiều
Những tháng cuối năm, áp lực lên mặt bằng giá được Cục Thống kê đánh giá vẫn khá rõ, đến từ cả yếu tố bên ngoài, nhu cầu trong nước và tác động có độ trễ của tín dụng, đầu tư.
Trước hết là rủi ro từ giá năng lượng và nguyên nhiên vật liệu thế giới trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị, các tuyến vận tải gián đoạn và chi phí logistics còn cao.
Cùng với đó, nhu cầu tiêu dùng, sản xuất và dịch vụ thường tăng vào dịp cuối năm, có thể tạo sức ép đối với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ.
“Trong quý IV, yếu tố thời vụ có thể tạo áp lực từ nhu cầu tiêu dùng, đi lại và dịch vụ cuối năm, vì vậy diễn biến giá của quý IV sẽ phụ thuộc đồng thời vào nhu cầu cuối năm, nguồn cung thực phẩm, giá năng lượng và các yếu tố về chính sách tác động lên giá”, bà Nguyễn Thu Oanh nhận định.
![]() |
| Nguồn dữ liệu: Cục Thống kê |
Một yếu tố khác là biến động giá nguyên liệu nhập khẩu, tỷ giá và chi phí vận chuyển từ thế giới có thể tiếp tục truyền dẫn vào giá trong nước.
Theo Trưởng Ban Thống kê Dịch vụ và Giá, sức ép từ phía cầu lên lạm phát đã rõ hơn khi tăng trưởng kinh tế cao, tín dụng, đầu tư và tiêu dùng cùng mở rộng.
Tuy nhiên, qua diễn biến CPI và lạm phát cơ bản, Cục Thống kê đánh giá áp lực giá hiện nay là sự kết hợp của cả yếu tố cầu và yếu tố chi phí.
Đáng chú ý, tín dụng và đầu tư thường có độ trễ nhất định đối với giá cả. Khi dòng vốn tiếp tục chuyển thành sản xuất, đầu tư và tiêu dùng, tác động có thể xuất hiện rõ hơn trong những tháng cuối năm và kéo dài sang năm 2027, nhất là ở những lĩnh vực có nguồn cung hạn chế như vật liệu xây dựng, năng lượng và một số dịch vụ.
Với mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân cả năm khoảng 4,5%, diễn biến 9 tháng đang đặt ra sức ép đáng kể khi CPI bình quân đã tăng 4,52%.
“Tôi cho rằng mục tiêu kiểm soát 4,5% này vẫn là nhiệm vụ trọng tâm, nhưng dư địa để chúng ta thực hiện trong bối cảnh áp lực tăng giá ở những tháng cuối năm này thì dư địa không còn nhiều và rõ ràng đó là một thách thức đối với việc đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát của cuối năm nay”, bà Nguyễn Thu Oanh cho biết.
Vì vậy, theo đại diện Cục Thống kê, trong những tháng cuối năm cần tiếp tục theo dõi sát giá xăng dầu, năng lượng, lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng và dịch vụ y tế; đồng thời chủ động bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, điều hành giá phù hợp để hạn chế tác động lan tỏa tới mặt bằng giá chung.
Tin tức khác
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 tăng 9,95%
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Nâng chất lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế
Bộ Tài chính đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hướng tới dịch vụ công toàn trình và quản trị bằng dữ liệu
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%
Kinh tế tầm thấp: Mở không gian tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 1,5% GDP
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 tăng 9,95%
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá










