Thị trường lao động 9 tháng năm 2026 khởi sắc, chất lượng việc làm tiếp tục cải thiện
![]() |
| Thị trường lao động Việt Nam 9 tháng năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. |
Việc làm tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực
Theo Cục Thống kê, trong 9 tháng năm 2026, thị trường lao động tiếp tục duy trì xu hướng cải thiện khi quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm tăng so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%, trong khi tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động giảm còn 1,53%. Kết quả này phản ánh nhu cầu sử dụng lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, đồng thời cho thấy khả năng hấp thụ lao động của nền kinh tế có chuyển biến tích cực.
Trong quý III/2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,1 triệu người, tăng 278,4 nghìn người so với quý trước và tăng 709,7 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, lực lượng lao động đạt 53,8 triệu người, tăng 697,0 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong quý III đạt 68,5%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước nhưng giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ.
Điều này cho thấy nguồn cung lao động tiếp tục được duy trì ở quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế trong quá trình phục hồi và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chưa tăng đồng đều so với cùng kỳ. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục khuyến khích người trong độ tuổi lao động tham gia thị trường, nhất là những nhóm có khả năng gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm.
Điểm đáng chú ý là chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện. Trong quý III/2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 30,4%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, tỷ lệ này đạt 29,9%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Trong quý III, số lao động có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người (chiếm 25,1%), cao hơn 24,5 nghìn người so với quý trước và thấp hơn 38,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 18,0 triệu người (chiếm 33,9%), cao hơn 150,0 nghìn người và cao hơn 394,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,7 triệu người (chiếm 41,0%), cao hơn 117,7 nghìn người và cao hơn 350,4 nghìn người.
Tính chung 9 tháng, lao động có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 13,3 triệu người, thấp hơn 147,7 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người, cao hơn 447,4 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người, cao hơn 384,1 nghìn người.
Những chuyển dịch trong cơ cấu việc làm cho thấy quá trình chuyển dịch lao động khỏi nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục diễn ra theo xu hướng phù hợp với yêu cầu nâng cao năng suất và gia tăng giá trị của nền kinh tế. Hiệu quả chuyển dịch được ghi nhận không chỉ nằm ở số lao động rời khỏi nông nghiệp, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như chất lượng công việc mới, mức thu nhập, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Để tạo cơ hội mở việc làm cho người lao động, ngoài mở rộng sản xuất công nghiệp và các ngành dịch vụ, cần chú trọng tới công tác đào tạo và đào tạo lại, giúp nâng cao kỹ năng cho lao động chuyển đổi việc làm. Đối với lao động khu vực nông thôn, phát triển và mở rộng các ngành nghề như chế biến, logistics, thương mại, du lịch và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất sẽ giúp tạo ra thêm nhiều việc làm tại chỗ, để người lao động ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
![]() |
| Số người có việc làm phân theo khu vực kinh tế các quý giai đoạn 2024-2026. |
Thu nhập tăng, nhưng việc làm phi chính thức vẫn là thách thức
Những tín hiệu tích cực của thị trường về quy mô việc làm, thị trường lao động vẫn đối mặt với tỷ lệ việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Theo Cục Thống kê, trong quý III năm 2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức, bao gồm cả lao động làm việc trong các hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản, đạt 60,6%, thấp hơn 1,1 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Xét theo khu vực kinh tế, tỷ lệ lao động phi chính thức trong công nghiệp và xây dựng là 41,9%, trong dịch vụ là 52,7%; cả hai cùng giảm 1,4 điểm phần trăm so với quý trước. Riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tỷ lệ này vẫn ở mức 98,7%, không thay đổi so với quý trước.
Tính chung 9 tháng năm 2026, cả nước có 32,4 triệu lao động có việc làm phi chính thức, chiếm 61,5% tổng số lao động có việc làm, giảm 2,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Mức giảm cho thấy cơ cấu việc làm đang chuyển biến theo hướng tích cực, song tỷ trọng lao động phi chính thức vẫn lớn, phản ánh những hạn chế về tính ổn định và khả năng bảo đảm quyền lợi của một bộ phận người lao động.
Theo Cục Thống kê, việc làm phi chính thức thường gắn với những công việc thiếu ổn định, thu nhập dễ biến động và khả năng tiếp cận các chế độ bảo hiểm, an sinh xã hội còn hạn chế. Vì thế khi thị trường chịu tác động từ biến động đơn hàng, chi phí sản xuất hoặc sức mua, nhóm lao động này có thể đối mặt với rủi ro mất thu nhập cao hơn. Vì vậy, giảm tỷ lệ phi chính thức cần được xem là một mục tiêu quan trọng bên cạnh việc gia tăng số lượng việc làm.
Để thúc đẩy chuyển dịch sang việc làm chính thức, các chính sách và chương trình hỗ trợ việc làm cần tiếp tục được triển khai theo hướng dễ tiếp cận, phù hợp với đặc điểm của lao động. Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao năng suất lao động và chất lượng việc làm gắn với cải thiện kỹ năng nghề, điều kiện làm việc và khả năng tiếp cận thông tin tuyển dụng. Khi thực hiện hiệu quả các yếu tố này sẽ giúp người lao động không chỉ có việc làm, còn giúp người lao động có cơ hội duy trì việc làm ổn định, tăng thu nhập, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống.
Ở chiều ngược lại, tình trạng thiếu việc làm tiếp tục giảm, cho thấy thời gian lao động và khả năng sử dụng nhân lực có chuyển biến tích cực. Trong quý III năm 2026, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 617,3 nghìn người, thấp hơn 144,2 nghìn người so với quý trước và thấp hơn 78,5 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III/2026 là 1,31%, thấp hơn 0,31 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực thành thị là 0,67%; khu vực nông thôn là 1,74%.
Tính chung 9 tháng, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 721,3 nghìn người, thấp hơn 43,0 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn 0,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,05%; khu vực nông thôn là 1,86%.
Diễn biến này cho thấy tình trạng thiếu việc làm đang được cải thiện, nhưng yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm số người chưa được sử dụng đầy đủ thời gian lao động, còn cần nâng cao hơn nữa hiệu quả phân bổ nhân lực, giúp người lao động có công việc phù hợp và được trả công tương xứng, đồng thời có khả năng duy trì sinh kế lâu dài.
![]() |
| 9 tháng năm 2026, cả nước có 32,4 triệu lao động có việc làm phi chính thức, chiếm 61,5% tổng số lao động có việc làm. |
Đáng chú ý, điểm sáng trong thị trường lao động khi ghi nhận thu nhập bình quân tăng. Theo Cục Thống kê, trong quý III năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,2 triệu đồng/tháng, tăng 215,5 nghìn đồng so với quý II năm 2026 và tăng 823,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. 9 tháng năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. Mức thu nhập tăng góp phần cải thiện đời sống người lao động, đồng thời hỗ trợ sức mua và tiêu dùng trong nước.
Nhìn tổng thể, thị trường lao động 9 tháng năm 2026 ghi nhận những chuyển biến tích cực với lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân được cải thiện, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm duy trì ở mức thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ việc làm phi chính thức còn cao và chất lượng lao động vẫn cần tiếp tục nâng lên. Do đó, để duy trì đà khởi sắc, thời gian tới cần tập trung hướng vào tạo việc làm chính thức, nâng cao kỹ năng nghề và cải thiện năng suất.
Tin tức khác
Bài 4: Cơ chế nào để mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội với lao động nền tảng số
Bài 3: Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động trên nền tảng số
Đảng ủy Cục Dự trữ Nhà nước chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác nhập, xuất hàng dự trữ
Du lịch Việt Nam chuyển từ tăng lượng khách sang tăng giá trị
Bài 2: Lao động trên nền tảng số và khoảng trống an sinh
Một công ty của Tập đoàn Vingroup tuyển dụng 15.000 nhân sự cho các đại dự án đô thị
Bài 1: Lao động trên nền tảng số đang gia tăng
Bài 3: Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động trên nền tảng số
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
Đẩy nhanh dự án trọng điểm nhưng không được đánh đổi chất lượng
Xử lý dứt điểm nhà, đất dôi dư trong năm 2026
Trung ương thảo luận về thu hút nhân tài, kinh tế - xã hội và ngân sách năm 2027
Tạo thêm dư địa cho khu vực tư nhân tham gia các dự án PPP về khoa học công nghệ
Thủ tướng Lê Minh Hưng thăm Lào và Campuchia, thúc đẩy quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu
27 thành viên tham gia Ủy ban Quốc gia APEC 2027
Hoàn thành phương án điều phối vật liệu cho các dự án trọng điểm trước ngày 15/10
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững
Việt Nam tìm động lực tăng trưởng mới, JICA đưa ra 4 trụ cột hỗ trợ
Điều chỉnh nhà đầu tư cảng Cái Mép Hạ vốn gần 2 tỷ USD
Bảo đảm nguồn cung xăng dầu, chủ động ứng phó biến động thị trường
Sức mua trực tuyến mở dư địa tăng trưởng cho kinh tế số
Sản xuất, thương mại duy trì đà tăng, tạo nền tảng tăng tốc trong quý IV/2026
JICA: Tăng trưởng 2 con số đặt ra nhu cầu vốn và hạ tầng rất lớn
TP. Hồ Chí Minh khởi công 2 tuyến metro nối Tây Ninh, Bình Dương vào quý IV/2026
Siết điều kiện thành lập khu thương mại tự do










