Tạo hệ sinh thái để kinh tế tập thể vươn lên thành động lực tăng trưởng
![]() |
| Cần các chính sách hỗ trợ thực chất cho hợp tác xã phát triển và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng. |
Dư địa lớn nhưng điểm nghẽn vẫn hiện hữu
Kinh tế tập thể đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nền tảng ngày càng vững chắc. Theo Liên minh hợp tác xã Việt Nam, đến hết năm 2025, cả nước có hơn 36.000 hợp tác xã, 153 Liên hiệp hợp tác xã và gần 82.000 tổ hợp tác, thu hút hơn 7,1 triệu thành viên, cho thấy quy mô cùng sức lan tỏa ngày càng rộng của khu vực này.
Hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã năm 2025 ước đạt 3,2 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 255 triệu đồng. Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên đạt 57 triệu đồng/người/năm, tăng 5-6% so với năm 2024. Tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 31%.
Vai trò của hợp tác xã còn thể hiện qua khả năng hỗ trợ kinh tế hộ. Thông qua liên kết sản xuất, cung ứng đầu vào và tổ chức tiêu thụ, thành viên có thể giảm chi phí sản xuất từ 8-21%, tăng giá bán sản phẩm từ 10-12%. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), kinh tế tập thể đóng góp trực tiếp khoảng 4,8% GDP, đồng thời tạo giá trị gián tiếp qua kinh tế hộ lên tới 30% GDP.
Năm 2026 dự kiến có thêm khoảng 900-1.000 hợp tác xã được thành lập. Cùng với mở rộng số lượng, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng hoạt động, xử lý khoảng 30% hợp tác xã yếu kém, tạm dừng hoạt động thông qua các quy định từ Luật Phá sản năm 2025. Đây là bước cần thiết để tái cơ cấu khu vực kinh tế tập thể theo hướng thực chất, hiệu quả và bền vững hơn.
| “Phần lớn hợp tác xã hoạt động dựa vào vốn góp của thành viên, quy mô vốn hạn chế, thiếu tài sản thế chấp. Khó khăn về vốn còn gắn với bài toán đất đai khi nhiều hợp tác xã phải thuê mặt bằng sản xuất. Quá trình đô thị hóa nhanh khiến nhu cầu về nhà xưởng, kho bãi và hạ tầng logistics ngày càng khó được đáp ứng đầy đủ”. TS. Nguyễn Minh Phong |
Dù vậy, những điểm nghẽn về nguồn lực vẫn cản trở khả năng bứt phá của khu vực này. TS. Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng Tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, gồm cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã, đang gặp khó khăn trong tiếp cận 4 nguồn lực quan trọng: vốn, đất đai, khoa học - công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Trong đó, vốn hiện là trở ngại lớn đối với nhiều hợp tác xã.
Trong khi đó, ông Trần Đức Tân, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm Tân Thịnh (TP. Hà Nội) cho biết đầu tư đổi mới công nghệ đòi hỏi nguồn lực rất lớn, trong khi hợp tác xã thiếu tài sản thế chấp. Một lò gas cần khoảng 2 tỷ đồng, lò điện hiện đại cũng tiêu tốn hàng trăm triệu đồng. Theo ông, thiếu vốn sẽ khiến hợp tác xã khó đổi mới công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm và tăng sức cạnh tranh.
Mở khóa nguồn lực, đưa hợp tác xã vào chuỗi giá trị mới
Nhận định nguồn nhân lực là mắt xích quyết định khả năng chuyển đổi, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng đây là yếu tố “vừa là lợi thế, vừa là yếu”. Hợp tác xã có khả năng huy động nhiều nhóm lao động, nhưng lực lượng trẻ có chuyên môn cao còn ít, do phần lớn lao động trẻ lựa chọn doanh nghiệp hoặc khu vực Nhà nước.
Theo TS. Nguyễn Minh Phong, hợp tác xã có thể khắc phục hạn chế về nhân lực bằng cách linh hoạt hơn. Thay vì phụ thuộc tuyển dụng toàn thời gian, hợp tác xã có thể hợp tác với chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, qua đó tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm mới với chi phí phù hợp, hiệu quả, nâng cao năng lực quản trị.
Thực tế tại hợp tác xã Gốm Tân Thịnh cho thấy hướng đi này đem lại hiệu quả, ông Trần Đức Tân cho biết cán bộ trẻ được đào tạo chuyên môn có khả năng tiếp cận công nghệ số, nắm bắt nhu cầu khách hàng, xử lý các yêu cầu hợp tác và đặt hàng ngày càng chuyên nghiệp, hiệu quả.
Theo ông Trần Đức Tân, để hợp tác xã phát triển thực chất và đóng góp cho tăng trưởng 2 con số, các chính sách hỗ trợ cần đúng trọng tâm, sát nhu cầu hợp tác xã. “Hiện nay với làng nghề, khoa học - công nghệ đặc biệt quan trọng và cần sự hỗ trợ. Nếu trước đây chuyển từ lò than sang lò gas là khát vọng, thì nay nhu cầu chuyển sang thiết bị hiện đại, công nghệ và số hóa”, ông Trần Đức Tân nhấn mạnh.
Ở góc độ rộng hơn, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng cần xây dựng hệ sinh thái phát triển đồng bộ giữa kinh tế Nhà nước, FDI, kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về kinh tế tư nhân mở ra định hướng, phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế.
Điều quan trọng là chuyển chủ trương, chính sách thành khả năng tiếp cận nguồn lực của hợp tác xã. Vốn tín dụng cần gắn với phương án sản xuất khả thi; chính sách đất đai cần tạo mặt bằng; hỗ trợ công nghệ hướng tới thiết bị, quy trình, quản trị số và khả năng thương mại hóa sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả.
Cùng với đó, phát triển kinh tế tập thể cần chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị. “hợp tác xã muốn phát triển bền vững phải gắn chặt với nhu cầu thị trường, ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia chuỗi sản xuất, tiêu thụ và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, ngân hàn”, TS. Nguyễn Minh Phong nêu rõ.
Tin tức khác
Lạng Sơn nâng năng lực logistics theo dòng hàng
Mở không gian phát triển mới cho thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam
VIBE 2026: Kích hoạt chuỗi giá trị, mở rộng thị phần cho doanh nghiệp
Khơi thông dòng vốn dài hạn cho các dự án đường bộ cao tốc
Gỡ điểm nghẽn vốn cho 2 dự án cao tốc trọng điểm phía Bắc
Quản lý định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên môi trường số
Đón dòng vốn lớn, lợi nhuận doanh nghiệp khu công nghiệp tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
VIDEO: Đồng bộ chính sách tài khóa tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
PODCAST: Lộ trình AI-First 2030: Chuyển dịch chiến lược đưa AI vào nghiệp vụ lõi ngành Tài chính
PODCAST: Việt Nam: Thông điệp của hòa bình, trách nhiệm và khát vọng phát triển
Kỳ họp thứ hai, Quốc hội dự kiến thông qua 38 luật, 7 nghị quyết
Chính phủ thống nhất nội dung dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật
Phát triển thông tin cơ sở thành hạ tầng số chiến lược của quốc gia
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm xã hội: Mở rộng bao phủ, bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động
TP. Hà Nội: Khởi công Dự án đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên
Điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn thành trung tâm logistics quốc tế
Giá điện theo giờ sẽ áp dụng theo lộ trình, hạn chế ảnh hưởng đến người dân
"Làm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển"
Đổi mới tư duy phát triển hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Doanh thu công nghiệp công nghệ số vượt 5,38 triệu tỷ đồng
Lạng Sơn nâng năng lực logistics theo dòng hàng
Mở không gian phát triển mới cho thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam
VIBE 2026: Kích hoạt chuỗi giá trị, mở rộng thị phần cho doanh nghiệp
Khơi thông dòng vốn dài hạn cho các dự án đường bộ cao tốc
Gỡ điểm nghẽn vốn cho 2 dự án cao tốc trọng điểm phía Bắc
Quản lý định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên môi trường số
Đón dòng vốn lớn, lợi nhuận doanh nghiệp khu công nghiệp tăng trưởng 2 con số









