Hoàn thiện quy định pháp luật về quyết toán ngân sách nhà nước
TS.Nguyễn Đức Thọ
Cục Kế hoạch - Tài chính, Bộ Tài chính
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) là hoạt động tổng hợp, đánh giá và xác nhận kết quả thực hiện thu - chi NSNN trong một năm ngân sách, trên cơ sở báo cáo của các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý và sử dụng ngân sách. Đây là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý ngân sách (lập - chấp hành - quyết toán). Nguyên tắc cơ bản của quyết toán NSNN là bảo đảm tính trung thực, khách quan và đầy đủ của số liệu quyết toán; phản ánh đầy đủ, trung thực, khách quan toàn bộ các khoản thu, chi đã thực hiện trong năm ngân sách; tuân thủ chế độ kế toán, thống kê và quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của các đơn vị dự toán là văn bản tổng hợp, phản ánh đầy đủ tình hình thu, chi ngân sách nhà nước đã được thực hiện trong một kỳ ngân sách của cơ quan hành chính hoặc đơn vị sự nghiệp công lập, trên cơ sở dự toán đã được giao, nhằm phục vụ việc kiểm tra, đánh giá và phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.
Báo cáo quyết toán NSNN không chỉ đơn thuần là việc tổng hợp số liệu thu - chi mà còn là công cụ quan trọng để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý tài chính công. Báo cáo quyết toán NSNN của các đơn vị dự toán, trong lĩnh vực tài chính công, trước hết về bản chất là một loại báo cáo tài chính mang tính pháp lý cao, phản ánh toàn diện kết quả thực hiện ngân sách sau một năm hoặc một kỳ ngân sách nhất định.
Về nội dung, báo cáo này bao gồm đầy đủ các khoản thu, chi ngân sách đã thực tế phát sinh trong kỳ, được đối chiếu, so sánh với dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền giao, đồng thời kèm theo phần thuyết minh và giải trình rõ ràng đối với các khoản chênh lệch nhằm bảo đảm tính minh bạch và chính xác của số liệu. Về mục đích, việc lập báo cáo quyết toán nhằm đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ tài chính của cơ quan, đơn vị, đồng thời xem xét mức độ tuân thủ các quy định pháp luật và hiệu quả trong việc sử dụng NSNN. Về chủ thể lập, báo cáo này do các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập có sử dụng NSNN trực tiếp thực hiện theo quy định. Về ý nghĩa quản lý, báo cáo quyết toán là căn cứ quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, thẩm định và phê duyệt, đồng thời phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm toán cũng như làm cơ sở để xây dựng và lập dự toán ngân sách cho các kỳ tiếp theo. Báo cáo quyết toán NSNN là công cụ phản ánh toàn diện kết quả thực hiện thu - chi ngân sách trong một kỳ nhất định. Thông qua báo cáo này, các cơ quan có thẩm quyền có thể đánh giá chính xác tình hình sử dụng ngân sách, từ đó đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ tài chính của từng cơ quan, đơn vị. Đây là cơ sở quan trọng để xem xét hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của các chủ thể sử dụng ngân sách.
Bên cạnh đó, báo cáo quyết toán có vai trò bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công. Việc công khai số liệu thu – chi, so sánh với dự toán và giải trình các chênh lệch giúp hạn chế thất thoát, lãng phí, đồng thời nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính, qua đó, tăng cường niềm tin của Nhà nước và xã hội đối với hoạt động của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập.
Mặt khác, báo cáo quyết toán cũng làm căn cứ cho công tác kiểm tra, thanh tra và kiểm toán. Các cơ quan chức năng dựa vào báo cáo quyết toán để phát hiện sai sót, vi phạm (nếu có), từ đó đưa ra các biện pháp xử lý và kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và phòng ngừa các hành vi tiêu cực.
Ngoài ra, báo cáo quyết toán còn có ý nghĩa phục vụ công tác lập và phân bổ ngân sách cho các kỳ tiếp theo. Những thông tin về kết quả thực hiện, những hạn chế và nguyên nhân được phản ánh trong báo cáo sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để xây dựng dự toán phù hợp hơn, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong quản lý ngân sách. Báo cáo quyết toán NSNN còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của cơ quan, đơn vị. Thông qua việc tổng kết, đánh giá hoạt động tài chính, các đơn vị có thể rút ra bài học kinh nghiệm, điều chỉnh phương thức quản lý và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý hơn trong tương lai.
Thực trạng quy định pháp luật về quyết toán NSNN và những vấn đề đặt ra
Tại Việt Nam, cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, pháp luật về quản lý NSNN trong nền kinh tế thị trường, quy định pháp luật về quyết toán NSNN đã được xây dựng, ban hành và áp dụng trong thực tế. Quy trình quyết toán NSNN được quy định tương đối rõ ràng, xác định cụ thể trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào chu trình ngân sách, đặc biệt là vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước trước khi trình Quốc hội phê chuẩn. Các báo cáo quyết toán NSNN được công bố công khai theo quy định pháp luật, tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát hoạt động quản lý ngân sách.
Luật NSNN số 89/2025/QH15 ngày 26/5/2025 với nhiều nội dung mới nhằm thể chế hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, điều hành NSNN, trong đó:
- Điều 67 quy định về yêu cầu quyết toán NSNN: Nội dung báo cáo quyết toán NSNN phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán NSNN được giao và theo mục lục NSNN.
- Điều 69 quy định xét duyệt quyết toán NSNN năm: Đơn vị dự toán cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện xét duyệt, ra thông báo xét duyệt quyết toán đối với đơn vị sử dụng ngân sách thuộc phạm vi quản lý. Việc xét duyệt quyết toán được thực hiện theo các nội dung sau: Xét duyệt thu, chi phát sinh tại đơn vị bảo đảm các điều kiện thu, chi quy định tại Điều 12 của Luật này và phải hạch toán theo đúng pháp luật về kế toán, đúng mục lục NSNN, đúng niên độ ngân sách; số liệu trong báo cáo quyết toán phải khớp đúng với số liệu trong sổ kế toán và số liệu xác nhận của KBNN. Thủ trưởng đơn vị xét duyệt quyết toán phải chịu trách nhiệm về kết quả duyệt quyết toán, trường hợp phát hiện vi phạm mà không xử lý sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, quy định này đã bổ sung một số nội dung xét duyệt quyết toán NSNN năm, trong đó quy định rõ hơn về trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị xét duyệt quyết toán.
- Điều 70 quy định tổng hợp quyết toán NSNN: Đơn vị dự toán cấp trên tổng hợp báo cáo quyết toán NSNN thuộc phạm vi quản lý đã được xét duyệt theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật này gửi đơn vị dự toán cấp trên trực tiếp; đối với đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan tài chính các cấp kiểm tra quyết toán của đơn vị dự toán ngân sách cấp I cùng cấp về tính đầy đủ, khớp đúng giữa các số liệu quyết toán với xác nhận của KBNN; tổng hợp quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách cấp mình và quyết toán năm của ngân sách cấp dưới. Như vậy, quy định này đã bãi bỏ nội dung thẩm định quyết toán NSNN của cơ quan tài chính các cấp và của đơn vị dự toán cấp I đối với các đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc trực tiếp đơn vị dự toán cấp II.
- Điều 72 quy định thời hạn và trình tự quyết toán NSNN: Các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách trung ương lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi về Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà nước trước ngày 05 tháng 7 năm sau; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà nước báo cáo quyết toán ngân sách địa phương đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn trước ngày 05 tháng 7 năm sau; Bộ Tài chính tổng hợp, lập báo cáo quyết toán NSNN trình Chính phủ và gửi Kiểm toán nhà nước chậm nhất ngày 15 tháng 8 năm sau; Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết toán NSNN chậm nhất ngày 20 tháng 9 năm sau để cho ý kiến và tiếp thu, hoàn chỉnh để trình Quốc hội; Quốc hội xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN chậm nhất là 12 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách. Như vậy, trình tự quyết toán NSNN năm được sửa đổi theo hướng rút ngắn thời gian lập, trình, phê chuẩn quyết toán NSNN hàng năm.
Theo Luật NSNN hiện hành, đơn vị dự toán cấp I sẽ không thực hiện thẩm định quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới của đơn vị dự toán cấp II. Quy định này góp phần đơn giản hóa quy trình tổng hợp quyết toán ngân sách, loại bỏ khâu thẩm định trùng lặp, qua đó giảm thời gian xử lý số liệu. Việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp dự toán giúp đơn vị cấp dưới chủ động, chịu trách nhiệm đầy đủ về tính chính xác, hợp pháp của hồ sơ quyết toán; đồng thời tạo điều kiện để đơn vị dự toán cấp I tập trung vào công tác tổng hợp số liệu và quản lý điều hành ngân sách. Nhờ vậy, tiến độ tổng hợp báo cáo quyết toán được rút ngắn, quy trình quyết toán được cải thiện, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính, ngân sách. Mặt khác, hệ thống công nghệ thông tin được tăng cường, trong đó đảm bảo tích hợp công nghệ mới (dữ liệu lớn, AI, blockchain...) phục vụ cho Chiến lược phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, trong đó có hiện đại hóa công tác quyết toán NSNN năm của các ngành, các đơn vị sẽ giúp tiếp nhận báo cáo điện tử từ các đơn vị, giảm sai sót thủ công, qua đó rút ngắn quy trình tổng hợp, đặc biệt trong giai đoạn tổng hợp quyết toán hàng năm, qua đó tạo thuận lợi căn cơ, dài hạn cho công tác quyết toán NSNN hàng năm.
Tuy nhiên, quy định pháp luật về quyết toán NSNN còn một số bất cập, vướng mắc:
Thứ nhất, quy định về thời điểm kết thúc năm ngân sách còn chưa thống nhất, đồng bộ giữa Luật NSNN và Luật Kế toán.
Theo quy định của Luật NSNN năm 2025 (Điều 66: Kết thúc năm ngân sách (ngày 31/12 hằng năm), đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách; thời gian chỉnh lý quyết toán NSNN kết thúc vào ngày 31/01 năm sau). Theo đó, kết thúc thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách phải xử lý ngân sách cuối năm và đối chiếu với KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để xác nhận số liệu, từ đó lập Báo cáo quyết toán NSNN của toàn bộ niên độ ngân sách, trên cơ sở đó đơn vị sử dụng ngân sách mới gửi báo cáo quyết toán đến đơn vị dự toán cấp trên để xét duyệt, tổng hợp, đơn vị dự toán cấp I tổng hợp quyết toán NSNN năm của ngành gửi các cơ quan quản lý nhà nước.
Theo quy định của Luật Kế toán (Điều 12: Kỳ kế toán năm là 12 tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch; Điều 30: Báo cáo tài chính nhà nước được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo tài chính của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức kinh tế và các đơn vị có liên quan khác thuộc khu vực nhà nước...; Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế và các đơn vị có liên quan có trách nhiệm lập báo cáo của đơn vị mình và cung cấp thông tin tài chính cần thiết phục vụ việc lập báo cáo tài chính nhà nước...”.
Như vậy, quy định pháp luật về lập báo cáo quyết toán NSNN năm và lập báo cáo tài chính năm của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập còn chưa đồng bộ về thời điểm, cụ thể: Thời điểm khóa sổ để lập báo cáo tài chính theo Luật Kế toán là 31/12; thời điểm khóa sổ để lập báo cáo quyết toán nguồn ngân sách theo Luật NSNN là 31/1 năm sau. Dẫn đến chưa đồng bộ về thời điểm kết thúc năm ngân sách để lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán NSNN đã khiến cho các cơ quan, đơn vị còn gặp khó khăn trong việc tổng hợp, liên kết, đối chiếu số liệu của 02 loại báo cáo này.
Thứ hai, các chỉ tiêu đối chiếu, so sánh giữa báo cáo quyết toán NSNN hằng năm với báo cáo tài chính hằng năm của đơn vị dự toán còn chưa thống nhất.
Báo cáo quyết toán NSNN và báo cáo tài chính hằng năm của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong việc phản ánh, quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, báo cáo quyết toán ngân sách tập trung phản ánh tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách theo mục lục NSNN, trong khi báo cáo tài chính được lập trên cơ sở chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp và phản ánh toàn diện tình hình tài sản, tài chính cũng như kết quả hoạt động của đơn vị. Sự khác biệt về mục tiêu lập báo cáo, nguyên tắc ghi nhận và hệ thống chỉ tiêu dẫn đến một số số liệu liên quan đến kinh phí ngân sách được giao, kinh phí đã sử dụng ... chưa có sự tương thích giữa hai loại báo cáo này. Việc thiếu đồng bộ, tương thích các chỉ tiêu đối chiếu, so sánh giữa báo cáo quyết toán NSNN hằng năm với báo cáo tài chính hằng năm của đơn vị dự toán gây khó đối chiếu, so sánh, nhất là trong công tác kiểm tra, đối chiếu và đánh giá hiệu quả sử dụng NSNN.
Thứ ba, số liệu quyết toán chi theo mục lục ngân sách giữa KBNN và đơn vị dự toán sử dụng NSNN chưa có sự liên thông, thống nhất.
Luật NSNN quy định đối với các đơn vị dự toán, nội dung báo cáo quyết toán chi NSNN phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán NSNN được giao và theo mục lục NSNN. Như vậy, khối lượng công việc hạch toán kế toán, quyết toán ngân sách hàng năm tăng đáng kể. Trong khi đó, số liệu hạch toán theo mục lục NSNN có thể khai thác được từ KBNN. Tuy nhiên, hiện nay chưa có cơ chế liên thông số liệu hạch toán theo mục lục NSNN giữa đơn vị dự toán và KBNN. Nếu có cơ chế liên thông số liệu này, đơn vị dự toán có thể sẽ sử dụng số liệu của KBNN về hạch toán theo mục lục NSNN, theo đó sẽ giảm khối lượng công việc của đơn vị dự toán, đảm bảo chuẩn xác số liệu giữa đơn vị dự toán và KBNN, đồng thời giảm sự trùng lặp về nhiệm vụ tổng hợp quyết toán chi NSNN theo mục lục NSNN của KBNN và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị dự toán sử dụng NSNN.
Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyết toán NSNN
Để khắc phục những bất cập, vướng mắc nêu trên, một số kiến nghị được đề xuất để hoàn thiện quy định pháp luật về quyết toán NSNN. Cụ thể:
Thứ nhất, thống nhất, đồng bộ thời điểm kết thúc năm ngân sách. Theo đó, cần sửa đổi, hoàn thiện quy định của Luật NSNN và Luật Kế toán theo hướng đồng bộ giữa thời điểm khóa sổ kế toán và thời điểm kết thúc các nghiệp vụ của của năm ngân sách vào ngày 31/12 năm dương lịch, bảo đảm tính thống nhất giữa báo cáo quyết toán NSNN và báo cáo tài chính của đơn vị dự toán.
Thứ hai, hoàn thiện quy định các chỉ tiêu đối chiếu, so sánh giữa báo cáo quyết toán NSNN hằng năm với báo cáo tài chính hằng năm của đơn vị dự toán. Hiện nay, báo cáo quyết toán NSNN và báo cáo tài chính của đơn vị dự toán được xây dựng theo những mục tiêu quản lý khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về hệ thống chỉ tiêu, phương pháp ghi nhận và phạm vi phản ánh thông tin, dẫn đến khó khăn trong việc đối chiếu, kiểm tra và xác minh số liệu giữa hai loại báo cáo như đã phân tích ở trên. Do đó, cần rà soát và hòa thiện các quy định của pháp luật NSNN và pháp luật kế toán theo hướng xây dựng hệ thống chỉ tiêu đối chiếu thống nhất giữa báo cáo quyết toán NSNN và báo cáo tài chính. Trong đó, cần quy định rõ các chỉ tiêu bắt buộc phải đối chiếu, so sánh để bảo đảm tính khớp đúng giữa 2 loại báo cáo, đặc biệt đối với các nội dung về kinh phí ngân sách được giao, kinh phí đã sử dụng, kinh phí chưa sử dụng, các khoản tạm ứng từ nguồn NSNN. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế kiểm tra, đối chiếu tự động thông qua hệ thống thông tin quản lý NSNN và kế toán. Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nên tài chính công và từng bước tiệm cận các chuẩn mực kế toán công quốc tế.
Thứ ba, xây dựng cơ chế bảo đảm liên thông số liệu quyết toán chi NSNN theo mục lục ngân sách giữa KBNN và đơn vị dự toán sử dụng NSNN. Các khoản chi ngân sách đều được kiểm soát, thanh toán qua hệ thống KBNN và cả đơn vị dự toán và KBNN đều hạch toán chi theo mục lục ngân sách, nên vẫn có trường hợp phát sinh chênh lệch giữa số liệu của KBNN và số liệu ghi nhận tại đơn vị dự toán do khác biệt về thời điểm hạch toán, nội dung phân loại theo mục lục ngân sách hoặc sai sót trong quá trình cập nhật, tổng hợp dữ liệu. Điều này gây khó khăn cho công tác xét duyệt và tổng hợp quyết toán ngân sách, đồng thời ảnh hưởng đến tính chính xác của thông tin tài chính công. Do đó, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý ngân sách và kế toán nhà nước theo hướng thiết lập cơ chế liên thông, chia sẻ và đối chiếu dữ liệu quyết toán chi ngân sách giữa KBNN và các đơn vị dự toán.
Theo đó, dữ liệu chi ngân sách phát sinh tại KBNN cần được cập nhật, kết nối và đồng bộ kịp thời với hệ thống kế toán của đơn vị sử dụng ngân sách trên cơ sở thống nhất mã số, mục lục ngân sách và các tiêu chí phân loại chi tiêu công. Đồng thời, cần quy định trách nhiệm của KBNN và đơn vị dự toán trong việc định kỳ đối chiếu, xác nhận số liệu trước khi lập báo cáo quyết toán nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa các nguồn thông tin.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tài chính - ngân sách tập trung, tích hợp dữ liệu từ KBNN, cơ quan tài chính và các đơn vị sử dụng ngân sách. Trên cơ sở đó, việc lập báo cáo quyết toán có thể được thực hiện theo hướng tự động hóa, hạn chế tối đa các thao tác tổng hợp thủ công, giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả quản lý NSNN.
| Để khắc phục những bất cập, vướng mắc nêu trên, một số kiến nghị được đề xuất để hoàn thiện quy định pháp luật về quyết toán NSNN. Thứ nhất, thống nhất, đồng bộ thời điểm kết thúc năm ngân sách. Thứ hai, hoàn thiện quy định các chỉ tiêu đối chiếu, so sánh giữa báo cáo quyết toán NSNN hằng năm với báo cáo tài chính hằng năm của đơn vị dự toán. Thứ ba, xây dựng cơ chế bảo đảm liên thông số liệu quyết toán chi NSNN theo mục lục ngân sách giữa KBNN và đơn vị dự toán sử dụng NSNN. |
Tài liệu tham khảo:
- Quốc hội (2025), Luật NSNN số 89/2025/QH15 ngày 26/5/2025.
- Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in số kỳ 2 tháng 6/2026 |
Tin tức khác
6 doanh nghiệp bị phạt 645 triệu đồng vì vi phạm chứng khoán
Gần 2,6 triệu lượt người tham gia cuộc thi tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật
Siết tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe công theo biên chế và đặc thù địa bàn
Tăng tới 1,5 lần mức hỗ trợ khuyến công để thu hút đầu tư vào ngành nghề ưu tiên
Cảnh báo loạt thủ đoạn lừa đảo, vi phạm trên thị trường bất động sản
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
Dự kiến hỗ trợ ngân sách cho hợp tác xã chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng thăm Nhà máy Angkormilk của Vinamilk tại Campuchia
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kiểm tra tiến độ thi công một số công trình, dự án trọng điểm của Thủ đô
Tháo gỡ kịp thời vướng mắc tại các dự án phục vụ APEC 2027 ở Phú Quốc
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Campuchia Hun Manet
Việt Nam - Campuchia trao đổi nhiều văn kiện hợp tác quan trọng
Thủ tướng Campuchia Hun Manet chủ trì lễ đón chính thức Thủ tướng Lê Minh Hưng
Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo định hướng ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo
Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thành 6 nhóm
Lời cảm ơn của Ban tổ chức Diễn đàn “Ngành Thuế và ngành Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số”
Hà Nội khởi công, khánh thành 18 công trình, dự án với tổng vốn hơn 127.000 tỷ đồng
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu sẽ quy tụ 1.500 đạt biểu, kết nối các cực tăng trưởng mới toàn cầu
“Soi” động lực tăng trưởng của “top 5” địa phương dẫn đầu GRDP
Công nghiệp duy trì đà tăng, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế
Nhu cầu thuê đất công nghiệp tăng tốc cùng dòng vốn FDI
Tăng trưởng kinh tế, giới hạn phát thải được chuyên gia quốc tế quan tâm
Mở “kho tài sản” văn hóa cho nền kinh tế sáng tạo
Toán học, dữ liệu và năng lực phân tích trong nền kinh tế số







