Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường các di sản thiên nhiên
![]() |
| Chương trình bảo vệ môi trường các di sản thiên nhiên sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường. |
Hiện nay, Việt Nam có hệ thống di sản thiên nhiên phong phú với trên 170 khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm 34 vườn quốc gia, hơn 60 khu dự trữ thiên nhiên và hàng chục khu bảo tồn loài, sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan. Bên cạnh đó, Việt Nam đã được quốc tế công nhận 9 khu Ramsar, 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 3 công viên địa chất toàn cầu UNESCO và 12 Vườn di sản ASEAN. Đây là những khu vực có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học, cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái.
Việc bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên được quy định chặt chẽ trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trọng tâm là bảo tồn đa dạng sinh học, kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất ở vùng lõi. Các biện pháp chính bao gồm phát triển du lịch bền vững, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh và tăng cường tuần tra, quản lý cảnh quan.
Triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ngày 01/04/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1137/QĐ-BNNMT về việc phê duyệt Chương trình bảo vệ môi trường các di sản thiên nhiên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo Quyết định này, đối tượng được bảo vệ là vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan được xác lập theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, lâm nghiệp và thủy sản; Di sản thiên nhiên được tổ chức quốc tế công nhận gồm: Vườn di sản ASEAN (Khu AHP), Vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Khu Ramsar); Khu dự trữ sinh quyển Thế giới và Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.
Chương trình bảo vệ môi trường các di sản thiên nhiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc, áp dụng đối với toàn bộ hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên và các danh hiệu quốc tế nêu trên. Trong bối cảnh áp lực phát triển gia tăng, nhiều khu di sản đang phải đối mặt với các thách thức như suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường và tác động của biến đổi khí hậu.
Mục tiêu xuyên suốt của Chương trình là nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại các di sản thiên nhiên, đảm bảo duy trì tính toàn vẹn sinh thái, giá trị đa dạng sinh học và cảnh quan. Theo đó, đến năm 2030, phấn đấu 100% khu di sản thiên nhiên có kế hoạch quản lý môi trường được phê duyệt và triển khai, trên 90% khu di sản thực hiện quan trắc môi trường định kỳ, đồng thời thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học phục vụ công tác quản lý.
Đáng chú ý, Chương trình đặt trọng tâm vào việc cải thiện chất lượng môi trường tại các khu di sản. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, khoảng 20–30% khu bảo tồn thiên nhiên hiện đang chịu tác động nhất định từ ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh thái, trong đó môi trường nước tại một số khu Ramsar và vùng đất ngập nước có dấu hiệu suy giảm chất lượng. Do đó, các khu vực bị suy thoái sẽ được rà soát, đánh giá và triển khai các biện pháp phục hồi phù hợp.
Song song với đó là việc kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển hạ tầng và du lịch. Thực tế cho thấy, lượng khách du lịch đến các khu di sản thiên nhiên tăng trung bình 10–15% mỗi năm, tạo áp lực không nhỏ lên môi trường nếu không được quản lý hiệu quả.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Chương trình xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên; rà soát, bổ sung các quy định nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Công tác điều tra, đánh giá, lập hồ sơ đề cử và công nhận các di sản thiên nhiên mới cũng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cùng với đó, việc tăng cường quản lý, giám sát được coi là giải pháp then chốt. Hiện nay, tỷ lệ khu bảo tồn có hệ thống quan trắc môi trường tự động còn hạn chế (ước khoảng 30–40%), do đó việc đầu tư, nâng cấp hạ tầng quan trắc sẽ là nhiệm vụ cấp thiết trong thời gian tới.
Một nội dung quan trọng khác là nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác quản lý di sản thiên nhiên. Theo thống kê, cả nước có hàng nghìn cán bộ, kiểm lâm, nhân viên làm việc tại các khu bảo tồn, tuy nhiên lực lượng này vẫn còn mỏng so với yêu cầu thực tế, đặc biệt ở các khu vực vùng sâu, vùng xa.
Chương trình cũng nhấn mạnh vai trò của việc huy động nguồn lực xã hội. Trong giai đoạn vừa qua, nguồn lực ngoài ngân sách đã đóng góp khoảng 20–25% tổng kinh phí cho một số hoạt động bảo tồn, cho thấy dư địa lớn để tiếp tục xã hội hóa trong lĩnh vực này.
Về tổ chức thực hiện, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học được giao làm đầu mối tham mưu, theo dõi, đôn đốc và đánh giá việc triển khai Chương trình. Các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường di sản với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, việc ban hành Chương trình không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng quan trọng để bảo tồn, phát huy giá trị các di sản thiên nhiên của Việt Nam. Với hệ sinh thái phong phú, ghi nhận khoảng hơn 51.000 loài sinh vật, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới, do đó việc bảo vệ các di sản thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững dài hạn.
Tin tức khác
Nâng chất lượng nguồn nhân lực đại học trước yêu cầu mới
Du lịch Hà Nội tăng tốc, hiện thực hóa mục tiêu trở thành điểm đến hàng đầu khu vực
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
Đưa văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế
Du lịch y tế cần một hệ sinh thái để bứt phá
Nghị quyết số 26-NQ/TW mở đường nâng giá trị, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
TP. Hồ Chí Minh nâng sức cạnh tranh từ du lịch MICE
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Dồn lực cho các động lực tăng trưởng trong quý IV
Quyết tâm cao, hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi chủ thể chỉ ban hành 1 hình thức
522 kiến nghị được xử lý, kịp thời tháo gỡ vướng mắc thể chế
Ưu đãi nhà ở cho thuê phải đến đúng đối tượng, phù hợp nguồn lực ngân sách
Đảm bảo nguồn lực tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Việt Nam hướng tới đáp ứng tiêu chí nâng hạng của MSCI, lên nhóm mới nổi bậc cao của FTSE
Kích hoạt các động lực tăng trưởng cho chặng nước rút năm 2026
Thu hút đầu tư nước ngoài công phá đỉnh kỷ lục mới, vượt mốc 50 tỷ USD
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD
GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, kinh tế Việt Nam dồn lực cho quý nước rút
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%
Kinh tế tầm thấp: Mở không gian tăng trưởng mới, hướng tới đóng góp 1,5% GDP
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 tăng 9,95%
Kinh tế 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng lan tỏa, nhiều động lực bứt phá








