Du lịch Việt Nam chuyển từ tăng lượng khách sang tăng giá trị
![]() |
| Du lịch Việt Nam 9 tháng đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế. |
Đà tăng trưởng tạo nền tảng cho bước chuyển về chất
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng thị trường dịch vụ, tạo việc làm và lan tỏa sang nhiều ngành, lĩnh vực khác.
Nghị quyết 26-NQ/TW không chỉ mục tiêu mở rộng quy mô thị trường còn đặt ra yêu cầu thay đổi mô hình tăng trưởng, từ “số lượng” sang “chất lượng”, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với thực tế ngành du lịch Việt Nam sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ.
Theo Cục Thống kê, 9 tháng năm 2026, Việt Nam đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 9/2026, lượng khách quốc tế đạt 1,77 triệu lượt, tăng 16,1%. Kết quả này tương đương gần 71% mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026.
Đáng chú ý trong tổng lượng khách quốc tế, có 83,2% đến Việt Nam bằng đường hàng không,15,4% bằng đường bộ và 1,4% bằng đường biển. Cơ cấu này cho thấy hàng không quốc tế tiếp tục là kênh kết nối chủ đạo, nâng công suất cửa ngõ hàng không và tăng khả năng kết nối giữa các trung tâm du lịch với thị trường nguồn.
Đáng chú ý, mức tăng trưởng được ghi nhận ở nhiều khu vực. Theo Cục Thống kê, khách từ châu Âu tăng 55%, châu Úc tăng 21%, châu Mỹ tăng 20% và châu Phi tăng 29,4%, trong khi châu Á tăng 7,6%. Việc mở rộng được nhiều thị trường giúp giảm sự phụ thuộc vào một số nguồn khách truyền thống, đồng thời tạo dư địa để ngành du lịch điều chỉnh cơ cấu theo hướng ưu tiên những phân khúc có thời gian lưu trú dài và khả năng chi tiêu cao.
Không chỉ vậy, mức tăng trưởng ở nhiều khu vực cũng cho thấy thị trường du lịch Việt Nam đang có độ mở rộng đáng kể. Tuy nhiên với tốc độ tăng lượng khách còn đặt ra yêu cầu quan trọng hơn trong việc làm thế nào để mỗi lượt khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Đây cũng là yêu cầu phù hợp với thực tiễn đặt ra cho ngành du lịch trong tăng trưởng và định hướng theo tinh thần của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Theo đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD; đồng thời hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và nền tảng số du lịch quốc gia. Đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP, đồng thời thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới và là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, phấn đấu đóng 70 triệu lượt khách quốc tế.
Từ những kết quả và mục tiêu cho thấy, thước đo của du lịch trong giai đoạn mới không chỉ là số lượt khách, đó còn là thời gian lưu trú, mức chi tiêu, chất lượng trải nghiệm, năng suất lao động, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa sang thương mại, vận tải, văn hóa, giải trí, nông nghiệp, công nghiệp sáng tạo được xem là những chỉ số ngày càng quan trọng.
![]() |
| Khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ. |
Nghị quyết số 263/NQ-CP mở không gian cho du lịch chất lượng cao
Việc ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW tạo định hướng chiến lược thì Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW chính là bước cụ thể hóa để đưa những chủ trương thành nhiệm vụ, giải pháp và đi vào thực hiện trong thực tế.
Với tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 263/NQ-CP là khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, quản trị và liên kết; đồng thời thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Các yếu tố này được xem là có tính quyết định khả năng du lịch chuyển từ một ngành phục hồi nhanh sang một ngành kinh tế có năng lực tạo giá trị cao hơn.
Thực tế, Việt Nam đã có một thị trường với nền tảng thuận lợi song theo các chuyên gia về du lịch thì ngành vẫn cần tiếp tục cải thiện chiều sâu của sản phẩm. Điều này cũng đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW chỉ rõ về các hạn chế như sản phẩm còn thiếu chiều sâu và sức sáng tạo, chưa tạo nhiều giá trị gia tăng; năng lực quản trị điểm đến, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng dịch vụ còn hạn chế.
Từ những đánh giá này cho thấy việc phát triển sản phẩm phải đi trước một bước. Trong đó, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, MICE, thể thao, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, nông nghiệp, du lịch ban đêm hay du lịch văn hóa, di sản và ẩm thực cũng cần được tổ chức thành các chuỗi trải nghiệm, từ đó có khả năng giữ chân du khách và gia tăng chi tiêu.
Bên cạnh đó Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng định hướng phát triển các tổ hợp văn hóa - thể thao - du lịch - giải trí - mua sắm; các trung tâm du lịch đa dịch vụ hoạt động cả ngày và đêm; trung tâm mua sắm chuyên nghiệp; đồng thời thúc đẩy du lịch biển, đảo chất lượng cao và nâng năng lực tiếp nhận khách tàu biển.
Thông qua cách tiếp cận này cho thấy ý nghĩa kinh tế rõ rệt. Du lịch được kết nối với bán lẻ, ẩm thực, vận tải, giải trí, biểu diễn nghệ thuật và công nghiệp văn hóa, chi tiêu của du khách có thể tạo ra nhiều vòng quay giá trị hơn trong nền kinh tế. Đơn cử, khi thời gian lưu trú được kéo dài, doanh thu không chỉ tăng ở cơ sở lưu trú mà còn lan sang dịch vụ vận tải, nhà hàng, mua sắm, vui chơi, văn hóa và các dịch vụ trải nghiệm.
Không chỉ sản phẩm, hạ tầng và kết nối cũng là những điều kiện then chốt của ngành. Nghị quyết số 26- NQ/TW yêu cầu phát triển hạ tầng đa phương tiện từ các cửa ngõ quốc tế đến vùng động lực, trung tâm du lịch và khu du lịch quốc gia; nâng cấp đường cao tốc, đường ven biển, hành lang du lịch liên vùng, cảng hàng không, cảng tàu du lịch, đường sắt và hạ tầng số.
![]() |
| Các sản phẩm du lịch cần được tổ chức thành các chuỗi trải nghiệm, tăng khả năng giữ chân du khách và gia tăng chi tiêu. |
Bên cạnh đó, chuyển đổi số không còn là một nhiệm vụ hỗ trợ mà trở thành cấu phần của năng lực cạnh tranh. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ đang triển khai kết nối dữ liệu ngành du lịch với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh và xác thực điện tử, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; đồng thời triển khai Nền tảng số dùng chung quốc gia Quản trị và Kinh doanh du lịch và xây dựng chủ trương đầu tư Nền tảng dữ liệu số Du lịch Việt Nam.
Từ những nền tảng quản trị điểm đến bằng dữ liệu thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm, từ đó nhận diện thị trường, dự báo nhu cầu, phân luồng khách, thiết kế sản phẩm và điều chỉnh hoạt động xúc tiến sát hơn với hành vi tiêu dùng.
Với độ tăng trưởng, du lịch có thể đóng góp trực tiếp vào mục tiêu kinh tế năm 2026 thông qua tiêu dùng, dịch vụ và việc làm; song giá trị lớn hơn được đặt ở khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Điều này cho thấy, du lịch kết nối hiệu quả với văn hóa, thương mại, giao thông, nông nghiệp, kinh tế số và công nghiệp sáng tạo, điều này tạo cho ngành du lịch có thể trở thành một lực đẩy cho nhiều khu vực kinh tế .cùng phát triển
Tinh thần của Nghị quyết số 26-NQ/TW không chỉ đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn hơn, mà còn định hình lại cách nhìn về du lịch như một hệ sinh thái kinh tế. Nghị quyết số 263/NQ-CP tiếp tục tạo khuôn khổ để các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cụ thể hóa định hướng đó bằng những nhiệm vụ thực chất. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao.
Với kết quả đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng năm 2026, ngành du lịch trong thời gian tới không chỉ hướng tới mục tiêu đạt 25 triệu lượt khách trong năm 2026 mà quan trọng hơn là xây dựng năng lực để mỗi lượt khách sẽ tạo ra được nhiều giá trị hơn, thời gian lưu trú lâu hơn, mức chi tiêu nhiều hơn và du khách cũng được trải nghiệm sâu hơn. Đây là hướng đi để ngành du lịch Việt Nam chuyển từ tăng lượng khách sang tăng giá trị, từng bước hiện thực hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Tin tức khác
Một công ty của Tập đoàn Vingroup tuyển dụng 15.000 nhân sự cho các đại dự án đô thị
Bài 1: Lao động trên nền tảng số đang gia tăng
Bảo đảm an toàn hàng dự trữ, sẵn sàng xuất cấp trong mùa mưa bão
Du lịch Việt Nam 9 tháng đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế, mở rộng dư địa tăng trưởng
Nâng chất lượng nguồn nhân lực đại học trước yêu cầu mới
Du lịch Hà Nội tăng tốc, hiện thực hóa mục tiêu trở thành điểm đến hàng đầu khu vực
Bổ sung nhiệm vụ vào Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa
VIDEO: Gia hạn ưu đãi thuế ô tô đến năm 2032: "Cú hích" thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu xe Việt
VIDEO: Mở rộng kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới
PODCAST: Bức tranh tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026: Những “cú bứt tốc” đáng chú ý
PODCAST: Bộ Tài chính lưu ý 5 nội dung quan trọng trong chấm điểm giải ngân đầu tư công
VIDEO: Giải bài toán chi phí logistics: "Cởi trói" biên lợi nhuận cho hàng xuất khẩu Việt
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV xem xét nhiều nội dung quan trọng
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững
Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Đưa đổi mới sáng tạo thành năng lực phát triển của toàn xã hội
Các địa phương tăng tốc, tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng 2 con số
Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ
Dư nợ tín dụng đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tiếp tục hướng vốn vào các động lực tăng trưởng
Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng tốc trong 3 tháng cuối năm
Metro số 4 TP. Hồ Chí Minh dự kiến có 31 nhà ga, dài 45 km
Việt Nam - Tanzania mở thêm dư địa hợp tác thương mại, đầu tư
Bức tranh thị trường qua lăng kính Top 10 Công ty uy tín ngành Nông nghiệp công nghệ cao năm 2026
Nâng cấp chuỗi giá trị: Động lực tăng trưởng nhanh và bền vững, kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam
Tháo điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và bài toán chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững
Dòng vốn FDI mới ưu tiên công nghệ, logistics và hạ tầng
Xuất khẩu thủy sản tăng tốc, mở rộng dư địa tăng trưởng cuối năm










