Bài 2: “Chuyển mình” cùng đất nước đổi mới
![]() |
| Hàng dự trữ quốc gia luôn được vận chuyển kịp thời, đáp ứng các nhu cầu cấp thiết (ảnh do ông Phạm Phan Dũng, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dự trữ Nhà nước (giai đoạn từ tháng 11/2008 - tháng 5/2017) cung cấp). |
Vượt qua khó khăn, phát triển trong công cuộc đổi mới
Với nền tảng được xây dựng để thích ứng với chiến tranh, nên trong những năm đầu tiên sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hệ thống dự trữ quốc gia vẫn cơ bản phân tán. Thực tiễn đã đòi hỏi một mô hình dự trữ quốc gia mới để phù hợp với bối cảnh mới.
Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 18/2/1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), đã ban hành Nghị định số 31/HĐBT về việc thành lập Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước, thuộc Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở Cục Dự trữ vật tư Nhà nước thuộc Bộ Vật tư và sáp nhập các cục quản lý dự trữ Nhà nước ở các Bộ, Tổng cục.
Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hoạt động dự trữ nhà nước có nhiều thuận lợi hơn. Về nguồn lực hiện có, về cơ sở vật chất, về đội ngũ cán bộ... được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm, cơ hội phát triển là rất lớn.
Tuy nhiên, ngành Dự trữ Nhà nước cũng đứng trước những thách thức không nhỏ. Trước hết là tư duy về quản lý hoạt động dự trữ nhà nước. Khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã xuất hiện cách nghĩ “với cơ chế thị trường, khi cần thì mua hoặc nhập khẩu, không cần dự trữ hiện vật”.
Cuối năm 1987, lực lượng hàng hoá dự trữ tồn kho rất thấp, nhất là tích trữ lương thực. Một phần do sản xuất lương thực trong nước chưa đủ ăn, vẫn phải nhập khẩu, nhận viện trợ và vay nợ từ nước ngoài.
Để khắc phục tình trạng trên, ngày 11/1/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 15/CT về việc tăng cường lực lượng Dự trữ Nhà nước. Cũng trong năm đó, tháng 8/1988, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 142/HĐBT về Quy chế quản lý dự trữ quốc gia.
Từ chỉ đạo quan trọng nói trên và nhất là nền tảng pháp lý từ Nghị định số 142/HĐBT, ngành Dự trữ Nhà nước đã có được nguồn lực đáng kể, từng bước chuyển mình thích ứng trong giai đoạn mới của đất nước. Chỉ trong hai năm 1988, 1989, lực lượng hàng hoá dự trữ quốc gia đã được tăng lên đáng kể; đặc biệt là lương thực và vật tư thiết bị để sẵn sàng đối phó với những tình huống đột xuất do thiên tai, địch họa và nhất là những diễn biến phức tạp khó lường của nền kinh tế thị trường trong những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới.
Những năm sau đó, hệ thống bộ máy ngành Dự trữ Nhà nước tiếp tục được thay đổi đáp ứng yêu cầu ở từng giai đoạn nhất định. Và đến năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 102/2000/QĐ/TTg ngày 24/8/2000 về việc chuyển Cục Dự trữ quốc gia về trực thuộc Bộ Tài chính. Đây cũng là dấu ấn quan trọng để công tác dự trữ quốc gia được tổ chức thực hiện trong mối tương quan chặt chẽ với ngân sách, tài khóa quốc gia.
Từ đây, nhiều vấn đề rất cơ bản trong quản lý dự trữ nhà nước được đặt ra và từng bước được giải quyết, như: đổi mới cơ chế quản lý và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật; xây dựng chiến lược phát triển và xây dựng quy hoạch hệ thống kho dự trữ nhà nước theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá; áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ mới trong công tác quản lý và bảo quản hàng dự trữ quốc gia; kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dự trữ quốc gia...
Cùng với hệ thống bộ máy, thể chế dự trữ quốc gia cũng từng bước được hoàn thiện mạnh mẽ. Dấu ấn nổi bật là Pháp lệnh Dự trữ quốc gia đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoá XI) thông qua ngày 29/4/2004. Đây chính là văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh công tác quản lý dự trữ nhà nước, trong đó khẳng định: Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước nhằm chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nước.
Từng bước hiện đại hóa
Với hệ thống bộ máy cơ bản cùng nền tảng thể chế ổn định, ngành Dự trữ Nhà nước đã dần lớn mạnh. Đặc biệt, ngày 27/11/2008, tại Nghị định số 118/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, Cục Dự trữ Nhà nước đã được đổi tên và nâng cấp thành Tổng cục Dự trữ Nhà nước, trực thuộc Bộ Tài chính.
Đến năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg ngày 20/8/2009, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Tổng cục Dự trữ Nhà nước được tổ chức theo hệ thống dọc với 3 cấp quản lý từ Trung ương đến các vùng chiến lược trên địa bàn cả nước.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách là Tổng cục Dự trữ Nhà nước, Chính phủ đã phân công một số bộ, ngành kiêm nhiệm quản lý và bảo quản hàng dự trữ quốc gia theo chuyên ngành và đặc chủng.
![]() |
| Ông Phạm Phan Dũng chia sẻ những bức ảnh kỷ niệm về công tác dự trữ Nhà nước |
Nói về giai đoạn này, ông Phạm Phan Dũng, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dự trữ Nhà nước (giai đoạn từ tháng 11/2008 - tháng 5/2017) cho biết, ngành Dự trữ Nhà nước (bao gồm cả dự trữ cho quốc phòng, an ninh, xăng dầu, phòng chống dịch bệnh, cứu hộ cứu nạn…) đã ổn định hệ thống kho, từng bước nâng cao quy mô dự trữ nhà nước theo các mục tiêu chiến lược được đặt ra, trong đó dự trữ lương thực đạt khoảng 250.000 tấn.
Tuy nhiên, đội ngũ những người làm dự trữ vẫn chưa được cải thiện, chưa được chuẩn hóa theo yêu cầu của nhiệm vụ mới. Cách bảo quản hàng hóa vật tư vẫn theo các phương pháp cũ, tương đối thủ công, lạc hậu. Khối lượng hàng hóa dự trữ tăng lên trong khi lực lượng cán bộ vẫn khá mỏng, vậy nên thực tế công việc của những cán bộ dự trữ, nhất là ở cơ sở rất vất vả.
Ông Dũng kể, có lần vào thăm một kho muối ở Hòa Bình, tận mắt chứng kiến đời sống cán bộ thủ kho mới thấm được hết nỗi nhọc nhằn của nghề này. Chịu trách nhiệm bảo quản hàng chục tấn hàng dự trữ quốc gia, nhưng điều kiện sinh hoạt của những người làm thủ kho lại hết sức tối giản.
“Nước mặn từ kho muối thấm ra xung quanh, đất đai, cây cối bị cháy xém hỏng hết, cán bộ phải đi xa mới có nước tắm rửa, sinh hoạt; phòng ăn ở thì tạm bợ… nhìn xót lắm”, ông Dũng kể.
Cũng một lần đến thăm kho, ông Dũng không thể quên được “ấn tượng” của mình về nghề “thủ kho”. Đó là thăm một kho thóc, tuy không bị thấm mặn như kho muối, nhưng cơ cực thì không kém. Chuyện là cán bộ thủ kho phải đảm bảo thóc được bảo quản tốt nhất, không bị mối mọt, ẩm mốc. Nói thì đơn giản vậy thôi nhưng với hàng chục, thậm chí hàng trăm tấn thóc chứa trong kho rộng mênh mông, bài toán lại khó vô cùng.
“Không còn cách nào khác, cán bộ nhà mình phải cào, đảo thóc bằng tay; cả mấy chục tấn thóc mà chỉ với sức của vài cán bộ thủ kho, quả thực nhọc vô cùng”, ông Dũng bùi ngùi nhớ lại.
Có lẽ chỉ qua những câu chuyện của người trong cuộc mới thấm thía được bao nỗi nhọc nhằn của những người làm dự trữ quốc gia, kể cả cán bộ thủ kho trong lực lượng quốc phòng, an ninh, thủ kho thuốc bảo vệ thực vật …. Họ giữ trọng trách rất lớn, bảo quản hàng chục, hàng trăm tấn hàng dự trữ quốc gia nhưng cơ chế lương, thưởng cũng không có nhiều sự khác biệt, nếu như không muốn nói là thấp.
Và cũng từ chính những thực tiễn đó, Luật Dự trữ quốc gia năm 2012 đã xây dựng với nhiều quan điểm mới, tiếp tục “mở đường” để ngành Dự trữ Nhà nước thể hiện vai trò chiến lược trong tiến trình phát triển đất nước. Hệ thống kho chứa từng bước được hiện đại hóa; công nghệ bảo quản đã tiên tiến hơn với màng bọc (PVC) kín, bơm khí Nitơ (N2) cùng hệ thống đo lường độ ẩm thường xuyên…
Đáng chú ý, Luật Dự trữ quốc gia năm 2012 đã xác định hoạt động dự trữ quốc gia mang tính đặc thù cao, có nhiều điểm giống với lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Với quan điểm, hàng dự trữ quốc gia xuất ra trong các tình huống đột xuất, cấp bách phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng; chất lượng hàng dự trữ quốc gia cũng là yếu tố quan trọng để thể hiện rõ uy tín của Đảng, Nhà nước với nhân dân; vì vậy, trách nhiệm của cán bộ dự trữ quốc gia rất lớn.
Và cũng từ những câu chuyện thực tiễn đầy thấm thía ở kho muối, kho thóc như đã kể một phần ở trên, Luật Dự trữ quốc gia 2012 đã quy định người làm công tác dự trữ quốc gia là công chức, viên chức làm việc tại cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách, người làm công tác dự trữ quốc gia là quân nhân, công an được hưởng phụ cấp thâm niên; tuỳ theo lĩnh vực, tính chất công việc được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề.
Từ Pháp lệnh cho đến Luật Dự trữ quốc gia 2012 đã cho thấy bước tiến mới về quan điểm, tư duy. Nghề dự trữ quốc gia đã nhìn nhận trân trọng vị thế xứng đáng. Nguồn lực dự trữ quốc gia đã được đảm bảo tối ưu hơn để “khi cần là có, khi khó có ngay”.
Tin tức khác
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Vingroup hỗ trợ nhà cung cấp, TCBS đạt lợi nhuận trước thuế 5.708 tỷ đồng
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ngân sách trung ương phải giữ vai trò chủ đạo
Thụy Sĩ muốn vào nhóm 10 nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam
Việt Nam và Công quốc Liechtenstein ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, mở rộng cơ hội hợp tác đầu tư
Tài chính doanh nghiệp 24/7: Trung Nam đầu tư điện gió, SHB hoàn tất thương vụ SHBFinance
Bộ Tài chính công bố thêm 2 chuẩn mực kế toán công Việt Nam
Bộ Tài chính bồi dưỡng an ninh mạng, dữ liệu và AI cho hơn 24.000 cán bộ
VIDEO: Ngành Thuế ngăn chặn vi phạm hóa đơn bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn
PODCAST: Doanh nghiệp chuyển phát gấp rút nâng cấp hệ thống theo Thông tư 142
PODCAST: Quyết liệt chống hàng giả online: Từ xử lý tài khoản ảo đến niêm phong kho thực
VIDEO: Thúc đẩy hợp tác kinh tế, tài chính Việt Nam - Luxembourg
PODCAST: Đề xuất kéo dài phiếu chuyển viện lên 20 ngày, sử dụng ngay trên VNeID
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bắt đầu thăm cấp Nhà nước tới Đan Mạch
Kiểm soát 2 nguy cơ thổi giá đầu cơ và thông đồng dìm giá trong đấu giá tài sản
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Phải kiểm soát được giá nhà ở xã hội, nhà cho thuê
Đề xuất tăng tiền đặt trước lên 50% giá khởi điểm, ngăn “cò mồi” đấu giá
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân lên đường thăm Đan Mạch, Liên minh châu Âu và Bỉ
Xây dựng thể chế không chỉ để xử lý điểm nghẽn mà còn kiến tạo phát triển
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Ngân sách trung ương phải giữ vai trò chủ đạo
"Tăng trưởng không thể có được nếu không có sự vào cuộc của chính quyền địa phương"
Kết quả tăng trưởng tích cực, củng cố niềm tin và tạo đà cho nhiệm kỳ mới
Phát huy vai trò nữ giới, khơi mở động lực phát triển kinh tế bạc tại Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh: Xây dựng giá trị thương hiệu cho hơn 1.000 sản phẩm OCOP
Sức sống hàng Việt sẽ mang đặc sản Gia Lai, Quảng Ngãi đến Hà Nội
Lạng Sơn phấn đấu hoàn thành giai đoạn 1 Cửa khẩu thông minh trong quý I/2027
Việt Nam - Thụy Sỹ: Mở rộng hợp tác, hiện thực hóa cơ hội từ Hiệp định Việt Nam - EFTA
Chuyển hóa 50 tỷ USD vốn FDI thành động lực tăng trưởng 2 con số năm 2026
Việt Nam với Đan Mạch, EU và Bỉ: Mở rộng hợp tác vì sự phát triển bền vững
Nhiều điểm sáng tăng trưởng, Việt Nam hấp dẫn nhà đầu tư










