eMagazine

EMAGAZINE: Chặng nước rút của mục tiêu tăng trưởng 10%

17:02 | 28/07/2026

GDP tăng 8,18% trong nửa đầu năm 2026 tạo nền tảng thuận lợi để nền kinh tế bước vào chặng nước rút, nhưng mục tiêu tăng trưởng 2 con số vẫn đặt ra yêu cầu rất cao khi 6 tháng cuối năm cần đạt 11,7%. Kịch bản tích cực chỉ có thể trở thành hiện thực nếu sản xuất, xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và sức bật của khu vực doanh nghiệp được kích hoạt đồng thời, trong khi các đầu tàu kinh tế phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt và lan tỏa.

Nền kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với mức tăng trưởng GDP 8,18%, cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2000. Kết quả này vượt nhiều dự báo trước đó, nhất là khi kinh tế thế giới vẫn chịu tác động từ xung đột địa chính trị, giá năng lượng biến động, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao.

Đà tăng trưởng không chỉ dựa vào một khu vực riêng lẻ. Công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và nông nghiệp đều duy trì xu hướng tích cực; đầu tư và tiêu dùng tiếp tục mở rộng. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò dẫn dắt, cùng với sự phục hồi của khu vực dịch vụ và gia tăng mạnh của dòng vốn đầu tư.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong 6 tháng tăng 10,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%. PMI tháng 6 đạt 51,8 điểm, đánh dấu tháng thứ 12 liên tiếp nằm trên ngưỡng 50 điểm, cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục mở rộng. Vốn FDI đăng ký đạt gần 34,7 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt khoảng 13 tỷ USD, tăng 11,2%.

Theo đánh giá của các chuyên gia UOB, kết quả trên phản ánh sức chống chịu đáng kể của nền kinh tế trước cú sốc địa chính trị và chi phí năng lượng gia tăng. Nhu cầu toàn cầu đối với điện tử, công nghệ và các chuỗi giá trị liên quan đến AI tiếp tục tạo lực đẩy quan trọng cho sản xuất công nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, 8,18% mới chỉ là nửa chặng đường. Trên cơ sở kết quả GDP quý II và 6 tháng, Cục Thống kê đã cập nhật quỹ đạo cần thiết để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% cả năm. Theo đó, GDP quý III phải tăng 11,16%, đưa tăng trưởng 9 tháng lên 9,19%; quý IV tiếp tục phải tăng 12,09%. Như vậy, tăng trưởng bình quân 6 tháng cuối năm cần đạt 11,7%.

Cũng dự báo về tăng trưởng kinh tế nửa cuối năm, dự báo của TS. Cấn Văn Lực và Nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV phản ánh những khả năng có thể xảy ra trong từng điều kiện cụ thể. Trong kịch bản tích cực, tăng trưởng có thể đạt 9,5-10%, nhưng đòi hỏi sự cộng hưởng rõ nét hơn giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân, FDI, tiêu dùng, xuất khẩu và các chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.

Nhưng theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV, Việt Nam vẫn có nền tảng để hướng tới kịch bản cao hơn khi kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, sản xuất phục hồi, FDI tích cực và đầu tư công có quy mô lớn.

Thách thức lớn nhất đến từ bối cảnh quốc tế. Đại diện Cục Thống kê nhận định, xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ và rào cản kỹ thuật có thể tác động mạnh hơn tới xuất khẩu. Với độ mở kinh tế lớn, sự suy yếu của tổng cầu thế giới sẽ nhanh chóng truyền dẫn tới công nghiệp chế biến, chế tạo và các doanh nghiệp phụ thuộc vào đơn hàng quốc tế.

Tuy nhiên, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, bức tranh thương mại 6 tháng đầu năm cần được nhìn nhận đầy đủ ở cả mặt tích cực và những điểm cần lưu ý.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 27,1% so với cùng kỳ, tiếp tục khẳng định thương mại là một động lực quan trọng của tăng trưởng. Xuất khẩu quý II tăng 22,7% so với cùng kỳ và tăng 16,8% so với quý I. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu; có 29 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ở chiều ngược lại, nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng là mức thâm hụt lớn so với nhiều năm trước. Theo TS. Phạm Anh Tuấn, nếu muốn quay trở lại mức thặng dư bình quân khoảng 24 tỷ USD mỗi năm như giai đoạn 2023-2025, cán cân thương mại nửa cuối năm phải đạt mức thặng dư rất cao. Đây là yêu cầu không dễ trong điều kiện nhu cầu thế giới chưa phục hồi đồng đều.

Dù vậy, nhập siêu chưa hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực. Khoảng 94,1% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu và nhiên liệu. Điều này phản ánh nhu cầu đầu vào cho mở rộng sản xuất và chuẩn bị đơn hàng trong những tháng cuối năm.

GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội cũng nhìn nhận, nhập khẩu tăng cần được đặt trong mối liên hệ với chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp đang nhập nguyên liệu, máy móc và thiết bị để chuẩn bị cho các mùa tiêu dùng lớn như Giáng sinh, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán. Nếu đầu vào này được chuyển hóa thành sản phẩm, đơn hàng và xuất khẩu trong nửa cuối năm, nhập khẩu tăng sẽ tạo thêm năng lực sản xuất thay vì chỉ làm gia tăng áp lực lên cán cân thương mại.

Bên cạnh thương mại, áp lực lạm phát vẫn phải được theo dõi sát. CPI bình quân 6 tháng tăng 4,38%, lạm phát cơ bản tăng 4,12%, tiến gần mục tiêu điều hành khoảng 4,5%. Tuy nhiên, CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước cho thấy áp lực giá đã phần nào dịu lại. Nếu giá năng lượng thế giới ổn định hơn và việc điều chỉnh các mặt hàng do Nhà nước quản lý được phối hợp hợp lý, nền kinh tế vẫn có dư địa hỗ trợ tăng trưởng mà không tạo ra cú sốc lớn về lạm phát.

Theo TS. Cấn Văn Lực, yêu cầu quan trọng không phải lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định, mà là tìm được điểm cân bằng giữa hai mục tiêu. Tăng trưởng cao cần được đặt trên nền tảng giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát và nâng cao năng lực nội sinh, thay vì phụ thuộc quá mức vào mở rộng tín dụng hoặc khai thác các yếu tố đầu vào.

Để đạt mức tăng gần 12% trong nửa cuối năm, nền kinh tế không thể dựa vào một “đầu kéo” duy nhất. Công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư công, đầu tư tư nhân, tiêu dùng, xuất khẩu và khu vực dịch vụ phải cùng tạo lực đẩy.

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là nền tảng quan trọng nhất. Động lực này có thể tiếp tục được củng cố nếu đơn hàng xuất khẩu cải thiện, khu vực FDI duy trì sản xuất ổn định và các dự án đầu tư mới sớm chuyển thành năng lực sản xuất thực tế.

Dòng vốn FDI vào điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, năng lượng và sản xuất thông minh đang tạo thêm dư địa. Tuy nhiên, hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước phụ thuộc vào khả năng tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng chất lượng nhân lực và cải thiện tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.

Khu vực dịch vụ cũng có khả năng đóng góp tích cực. Thương mại, vận tải, logistics, tài chính – ngân hàng, công nghệ thông tin, du lịch, lưu trú và ăn uống được kỳ vọng tiếp tục phục hồi nhờ nhu cầu nội địa gia tăng và thị trường khách quốc tế cải thiện.

Theo ông Mạc Quốc Anh, một số lĩnh vực mới đang duy trì mức tăng trưởng khá tích cực như phần mềm, chip bán dẫn, y tế, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp và giáo dục. Đây là những ngành phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới, khi nhu cầu ngày càng hướng tới các sản phẩm, dịch vụ chuyên sâu và cá nhân hóa. Trong 6 tháng đầu năm, nhiều lĩnh vực thuộc nhóm này ghi nhận mức tăng trên 15%, tạo thêm những điểm sáng bên cạnh các ngành sản xuất truyền thống.

Tiêu dùng trong nước cũng có dư địa lớn hơn trong những tháng cuối năm, khi đây là cao điểm mua sắm và dịch vụ. Sự phát triển của thương mại điện tử, bán lẻ hiện đại, thanh toán số và các chương trình kích cầu có thể tạo thêm động lực cho thương mại và dịch vụ.

Tuy nhiên, lực đẩy có khả năng tạo hiệu ứng nhanh và rộng nhất vẫn là đầu tư. Theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, đầu tư công có vai trò kép: vừa mở rộng tổng cầu trong ngắn hạn, vừa gia tăng năng lực cung ứng, kết nối thị trường và giảm chi phí của nền kinh tế trong dài hạn. Những dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics và đô thị không chỉ tạo thêm việc làm, nhu cầu vật liệu và dịch vụ xây dựng, mà còn mở ra không gian phát triển cho đầu tư tư nhân.

Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công không thể chỉ được đánh giá qua lượng vốn được bố trí hay tỷ lệ giải ngân danh nghĩa. Điều quan trọng là vốn ngân sách phải chuyển thành khối lượng công trình thực tế, được hoàn thành đúng tiến độ và tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế.

Đây là vấn đề đáng lưu ý khi nhiều dự án vẫn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục điều chỉnh, nguồn cung vật liệu và năng lực triển khai không đồng đều. Nếu những điểm nghẽn này được xử lý, đầu tư công sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh tới xây dựng, công nghiệp vật liệu, vận tải, dịch vụ và khu vực doanh nghiệp.

PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cũng lưu ý rằng, đầu tư công không thể thay thế đầu tư tư nhân. Khu vực nhà nước có thể đi trước ở những dự án hạ tầng lớn, có thời gian thu hồi vốn dài và tác động lan tỏa rộng, nhưng tăng trưởng bền vững phải dựa trên việc thu hút thêm nguồn lực xã hội. Đầu tư công chỉ thực sự phát huy vai trò dẫn dắt khi tạo ra thị trường và giảm chi phí để doanh nghiệp tư nhân tham gia.

Dù vậy, khu vực doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với sức ép không nhỏ. Đơn hàng của nhiều doanh nghiệp chưa trở lại mức kỳ vọng; dệt may, da giày tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh, trong khi chi phí vốn, logistics và yêu cầu tiêu chuẩn từ thị trường quốc tế ngày càng cao.

Kết quả GRDP 6 tháng đầu năm cho thấy tăng trưởng giữa các địa phương tiếp tục phân hóa. Nhóm có nền tảng công nghiệp, hạ tầng, xuất khẩu và dịch vụ phát triển đạt tốc độ cao hơn, trong khi các địa phương phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp hoặc chưa có dự án quy mô lớn còn gặp khó khăn.

Có 9/34 địa phương đạt tốc độ tăng GRDP trên 10%, gồm Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tây Ninh và Thái Nguyên. Tuy nhiên, mức đóng góp vào tăng trưởng chung không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng, mà còn phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế.

Theo Cục Thống kê, TP. Hồ Chí Minh đóng góp 21,9% vào tăng trưởng GRDP cả nước trong 6 tháng, Hà Nội đóng góp 11,71%, Hải Phòng 7,51%, Đồng Nai 5,89% và Bắc Ninh 5,32%. Tính chung, 5 địa phương này đóng góp hơn 52% vào tăng trưởng của cả nước.

Điều này cho thấy sức bật của các trung tâm kinh tế sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chung. Chỉ cần những đầu tàu lớn cải thiện thêm một phần tốc độ tăng trưởng, tác động lan tỏa tới cả nền kinh tế sẽ rất đáng kể.

Riêng với TP. Hà Nội, ông Mạc Quốc Anh đánh giá, Thành phố đang có sự chuyển mình rõ nét khi điều chỉnh định hướng thu hút đầu tư từ coi trọng số lượng sang ưu tiên chất lượng, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và nguồn nhân lực. Việc đầu tư mạnh vào hạ tầng giao thông và logistics sẽ tạo nền tảng để Hà Nội mở rộng không gian phát triển, thu hút nhà đầu tư và kết nối tốt hơn với các trung tâm công nghiệp phía Bắc. Các tuyến giao thông liên vùng, hạ tầng hai bên sông Hồng và hệ thống đường sắt đô thị không chỉ giải quyết nhu cầu đi lại, mà còn tạo ra các hành lang kinh tế, thương mại và đô thị mới.

Tương tự, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò trung tâm công nghiệp, dịch vụ, tài chính và tiêu dùng lớn nhất; Hải Phòng phát huy lợi thế cảng biển, logistics và công nghiệp; Bắc Ninh, Thái Nguyên giữ vai trò quan trọng trong chuỗi điện tử; Đồng Nai là trung tâm sản xuất và kết nối hạ tầng phía Nam; Quảng Ninh có thế mạnh về công nghiệp, dịch vụ và du lịch.

Nếu các đầu tàu tăng trưởng không chỉ đạt mục tiêu riêng mà còn mở rộng được liên kết vùng, hiệu ứng sẽ lan tỏa tới các địa phương lân cận. Một tuyến đường mới, một trung tâm logistics hay một cụm công nghiệp công nghệ cao chỉ tạo ra giá trị lớn nhất khi kết nối được doanh nghiệp, lao động và thị trường trên phạm vi rộng hơn ranh giới hành chính.

Mục tiêu GDP tăng 10% vì thế không chỉ là phép tính đưa tốc độ tăng từ 8,18% lên 11,7%. Đó là yêu cầu nâng khả năng phối hợp giữa các động lực: đầu tư công phải mở đường cho đầu tư tư nhân; FDI phải tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong nước; nhập khẩu đầu vào phải chuyển thành sản phẩm và xuất khẩu; tín dụng phải đi vào hoạt động tạo giá trị; các đầu tàu phải kéo được cả vùng cùng phát triển.

Kịch bản tích cực vẫn có cơ sở khi sản xuất tiếp tục mở rộng, FDI duy trì đà tăng, đầu tư công có quy mô lớn, tiêu dùng nội địa phục hồi và nhiều ngành kinh tế mới đang hình thành. Điều quan trọng là những lợi thế ấy phải được chuyển hóa nhanh hơn thành công trình, đơn hàng, năng lực sản xuất và việc làm.

Phép thử thực sự của 6 tháng cuối năm vì thế không chỉ là Việt Nam có đạt 10% hay không, mà là tăng trưởng ấy được tạo ra bằng cách nào. Một kịch bản thành công phải đồng thời mở rộng quy mô kinh tế, củng cố sức khỏe doanh nghiệp, nâng năng suất, giữ vững ổn định vĩ mô và tạo thêm năng lực phát triển cho những năm tới. Khi mỗi đồng vốn đầu tư tạo ra một công trình hiệu quả hơn, mỗi doanh nghiệp có thêm cơ hội bước vào chuỗi giá trị và mỗi địa phương tìm được động lực phù hợp với lợi thế của mình, mục tiêu tăng trưởng 2 con số sẽ không còn là một đỉnh cao chỉ cần chinh phục trong một năm. 

Hương Dịu - Dương Hưng