eMagazine

EMAGAZINE: Cần một chính sách kinh tế thích ứng với già hóa dân số nhanh

Theo dự báo của Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ chính thức bước vào giai đoạn dân số già vào khoảng năm 2036, với tốc độ già hóa nhanh hơn nhiều nước phát triển. Điều này đặt ra những thách thức to lớn đối với tăng trưởng kinh tế của Đất nước và một chính sách kinh tế thích ứng với già hóa dân số nhanh là cấp thiết.

Ở Việt Nam, dân số đang trong quá trình già hóa; số người cao tuổi ngày càng tăng, tỷ lệ người già trong dân số ngày càng cao. Già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ rất nhanh ở nước ta.

Tổng điều tra Dân số và nhà ở qua các năm 1979; 1989; 1999; 2009; 2019 của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam tăng cao. Cụ thể, nếu tính đến tháng 10/1979 tỷ lệ người cao tuổi là 6,90% thì đến tháng 4/2019 con số này đã tăng, đạt tỷ lệ 11,9% (xem Bảng).

Nguồn: Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1979; 1989; 1999; 2009; 2019, Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê)

Về mặt kinh tế, già hóa dân số dẫn đến sự sụt giảm trong quy mô và năng suất của lực lượng lao động. Khi tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm, nền kinh tế sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân công, đặc biệt ở các ngành sản xuất thâm dụng lao động.

Già hóa dân số nhanh tác động trực tiếp đến cơ cấu chi tiêu công và sức cạnh tranh quốc gia. Lực lượng lao động trẻ không còn dồi dào khiến chi phí nhân công tăng, doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất, giá thành đầu vào - đầu ra sản phẩm tăng, hiện tượng này diễn ra trong bối cảnh năng suất lao động vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, nên sự suy giảm về quy mô lao động có thể làm giảm đáng kể tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn.

Già hóa dân số tác động đến cấu trúc tiêu dùng và mô hình sản xuất của nền kinh tế. Khi tỷ lệ người già tăng, cơ cấu tiêu dùng chuyển từ hàng hóa thiết yếu và đầu tư dài hạn sang các sản phẩm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, và nghỉ dưỡng. Mặc dù đây là cơ hội cho các ngành kinh tế mới, nhưng đồng thời cũng làm giảm nhu cầu về hàng hóa công nghiệp, nhà ở, giáo dục - những lĩnh vực vốn là động lực chính của tăng trưởng. Tình trạng “xã hội tiêu dùng già” có thể dẫn đến tăng trưởng chậm, giảm khả năng tích lũy và đổi mới, đặc biệt khi người cao tuổi có xu hướng tiết kiệm hơn là đầu tư hoặc chi tiêu mạnh.

Quá trình già hóa ảnh hưởng đến năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, lực lượng lao động trẻ thường năng động, sáng tạo và nhanh thích ứng với công nghệ mới hơn. Khi tỷ lệ người lao động lớn tuổi tăng lên, tốc độ đổi mới và chuyển đổi công nghệ có thể bị chậm lại, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh kinh tế số và toàn cầu hóa. Ở cấp độ doanh nghiệp, việc duy trì năng suất cao trong điều kiện lao động già hóa đòi hỏi đầu tư lớn vào tự động hóa, đào tạo lại nhân sự và cải thiện điều kiện làm việc - những chi phí không nhỏ đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Già hóa dân số cũng làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng khi nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ dành cho người cao tuổi, như chăm sóc sức khỏe, dược phẩm, thiết bị y tế, và du lịch nghỉ dưỡng thân thiện với người cao tuổi ngày càng tăng cao.

Tóm lại, già hóa dân số nhanh là thách thức nghiêm trọng đối với tăng trưởng kinh tế bền vững. Nếu không có các chính sách thích ứng kịp thời, Việt Nam có thể rơi vào “bẫy già hóa trước khi giàu” tức là dân số già đi khi thu nhập bình quân đầu người vẫn còn thấp, khiến con đường phát triển kinh tế trở nên khó khăn và bền vững hơn.

Tuy nhiên, nếu có chính sách kịp thời, với định hướng đúng, đây chính là cơ hội phát triển của “kinh tế bạc” (lĩnh vực kinh tế gắn với chủ thể là người cao tuổi, gắn với thị trường sẩn phẩm và dịch vụ phục vụ đối tượng người cao tuổi).

Nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của nhóm 0-15 tuổi và nhóm 64 tuổi trở lên lại có sự lan tỏa tốt hơn đến giá trị tăng thêm
của nền kinh tế so với nhóm tuổi từ 16-63 giai đoạn 2016-2022. Nguồn: UNFPA Việt Nam

Nếu Việt Nam không có chính sách kinh tế thích ứng kịp thời và hiệu quả với quá trình già hóa dân số nhanh, đất nước sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghiêm trọng:

Nguy cơ rơi vào “bẫy già hóa trước khi giàu”: Đây là nguy cơ lớn nhất và đã được nhiều chuyên gia cảnh báo. Việt Nam đang già hóa rất nhanh trong khi trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động và thu nhập bình quân đầu người vẫn còn thấp. Nếu không có chính sách thích ứng, lực lượng lao động giảm, chi phí an sinh tăng, năng suất không cải thiện - nền kinh tế sẽ suy yếu trước khi đủ giàu để chăm lo cho dân số già. Khi đó, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “chưa kịp giàu đã già”, mất đi lợi thế nhân khẩu học và đối mặt với tăng trưởng trì trệ kéo dài.

Nguy cơ thiếu hụt lao động và suy giảm năng suất quốc gia: Khi lực lượng lao động trẻ giảm mà không có chính sách khuyến khích sinh con, đào tạo kỹ năng hoặc ứng dụng công nghệ thay thế, Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng thiếu lao động trầm trọng trong nhiều ngành sản xuất, đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Hệ quả là năng suất lao động giảm, doanh nghiệp khó cạnh tranh, đầu tư nước ngoài sụt giảm, kéo theo nguy cơ suy giảm tăng trưởng dài hạn.

Nguy cơ gây hệ lụy lâu dài đối với phát triển bền vững: Không thích ứng với già hóa dân số sẽ khiến Việt Nam khó đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, đặc biệt là các mục tiêu về xóa nghèo, sức khỏe tốt, giảm bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong dài hạn, nền kinh tế có thể đối mặt với suy thoái nhân khẩu học, khi dân số giảm và già hóa đồng thời, làm thu hẹp quy mô thị trường, giảm tiêu dùng, đầu tư và đổi mới sáng tạo.

Nguy cơ giảm cạnh tranh quốc gia: Các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines hay Ấn Độ vẫn đang trong giai đoạn “dân số vàng” nghĩa là họ có lực lượng lao động trẻ đông đảo, năng động. Nếu Việt Nam không có chính sách tận dụng được lợi thế cuối cùng của cơ cấu dân số hiện nay, chúng ta sẽ bị tụt lại phía sau về năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp trong khu vực.

Tóm lại, nếu Việt Nam không có chính sách kinh tế thích ứng với già hóa dân số nhanh, chủ động ứng phó, tận dụng nguồn lực người cao tuổi, phát triển “kinh tế bạc” và đảm bảo phúc lợi toàn dân, đất nước không chỉ duy trì vị thế ổn định mà còn có thể biến thách thức già hóa thành cơ hội khẳng định uy tín quốc gia hiện đại, nhân văn và bền vững.

Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu đã sớm triển khai chiến lược phát triển kinh tế bạc nhằm thích ứng với xu hướng già hóa dân số. Qua tham khảo các dữ liệu quốc tế, thấy ở châu Âu, năm 2015 kinh tế bạc trị giá khoảng €4,2 nghìn tỉ (~29 % GDP khu vực EU).

Năm 2025, kinh tế bạc được coi là động lực tăng trưởng mới, với quy mô thị trường ước đạt 5,7 nghìn tỷ euro, tạo ra hàng chục triệu việc làm thông qua các chương trình đổi mới sáng tạo, công nghệ hỗ trợ và mô hình môi trường sống thân thiện, thậm chí tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng sáng tạo, bao trùm và bền vững, đồng thời tạo thêm động lực mới cho tăng trưởng và phát triển xã hội. Ở Trung Quốc, báo cáo cho thấy kinh tế bạc hiện tại khoảng 7 nghìn tỉ nhân dân tệ (≈ US$965 tỉ) và chiếm khoảng 6% GDP. Dự báo đến 2035 tỷ lệ này có thể lên tới ~10 % GDP… Rõ ràng, kinh tế bạc đã và đang là một phần không nhỏ của tổng tiêu dùng, dịch vụ, và GDP của nhiều quốc gia.

Để thích ứng với già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, cần triển khai một loạt chính sách kinh tế cụ thể nhằm vừa giảm thiểu tác động tiêu cực, vừa khai thác cơ hội từ “kinh tế bạc” và nguồn lực người cao tuổi.

Thứ nhất, Nhà nước cần xây dựng các chính sách khuyến khích lao động lớn tuổi tham gia kinh tế, bao gồm chính sách việc làm linh hoạt, các chương trình đào tạo và nâng cao kỹ năng, ưu đãi thuế và hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi. Xây dựng các chương trình khuyến khích người cao tuổi tham gia cố vấn, truyền nghề, nghiên cứu hoặc lao động linh hoạt, nhằm phát huy “chất xám bạc” - nguồn lực tri thức và kinh nghiệm quý báu cho xã hội. Bổ sung, xây dựng chính sách tài chính và thuế hỗ trợ chi tiêu chăm sóc sức khỏe, khuyến khích tiết kiệm hưu trí và đầu tư dài hạn cho người cao tuổi; cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, hợp tác xã, mô hình kinh tế gia đình… Mở rộng chính sách phát triển sản phẩm tài chính chuyên biệt, như bảo hiểm chăm sóc dài hạn tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung, chương trình tiết kiệm tuổi già, nhằm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính từ Nhà nước và xã hội cho phát triển kinh tế bạc.

Thứ hai, cần xây dựng chính sách huy động các nguồn lực tập trung phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ thân thiện với người cao tuổi như: các dịch vụ chăm sóc y tế dài hạn, công nghệ hỗ trợ người cao tuổi; các ngành hàng hóa dịch vụ như du lịch, nghỉ dưỡng, nhà ở thông minh, giáo dục thường xuyên và giải trí dành cho người già…

Thứ ba, cần xây dựng chính sách thúc đẩy mạnh mẽ số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu về người cao tuổi, hệ thống thống kê dân số, chi tiêu, sức khỏe, lao động và nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi làm nền tảng để hoạch định chính sách, lập kế hoạch và đánh giá tác động của các chính sách, đảm bảo các quyết định kinh tế dựa trên dữ liệu thực tế.

Thứ tư, cần xây dựng các chính sách khuyến khích nghiên cứu xây dựng và triển khai hệ thống dưỡng lão và dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng, chăm sóc tại nhà gắn với y tế cơ sở, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng khó khăn phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính.

Thứ năm, cần xây dựng các chính sách phát triển kinh tế bạc dựa trên phương châm Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách, thực hiện công tác quản lý chung; các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh, phát triển các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của người cao tuổi và tín hiệu thị trường.

Thứ sáu, cần xây dựng các chính sách thúc đẩy, phát huy sự đồng thuận và tham gia của xã hội. Người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cần nhận thức đúng về già hóa dân số, tích cực tham gia phát triển kinh tế bạc.

Thứ bảy, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và áp dụng linh hoạt các mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trang Nguyễn - Ngô Hoàn

Tin tức khác

TP. Hồ Chí Minh thống nhất tăng thêm thu nhập cho 2 nhóm công chức, viên chức

TP. Hồ Chí Minh thống nhất tăng thêm thu nhập cho 2 nhóm công chức, viên chức

Thời sự
HĐND TP. Hồ Chí Minh thống nhất ban hành 2 Nghị quyết quy định hỗ trợ tăng thêm thu nhập cho 2 nhóm cán bộ, công chức, viên chức làm việc trên địa bàn.
Doanh nghiệp nhà nước được đề xuất vay ODA, vay ưu đãi

Doanh nghiệp nhà nước được đề xuất vay ODA, vay ưu đãi

Thời sự
Chiều 10/12, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công với 423/433 đại biểu tán thành. Điểm đáng chú ý là Luật mở rộng đối tượng được đề xuất vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài, cho phép cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối trên 50% tham gia, đồng thời cắt giảm nhiều thủ tục, tăng minh bạch trong quản lý nợ và xây dựng cơ sở dữ liệu nợ công thống nhất.
Chốt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030, mở rộng các vùng động lực tăng trưởng

Chốt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030, mở rộng các vùng động lực tăng trưởng

Thời sự
Với 100% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2023, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 8,0%/năm thời kỳ 2021-2030, trong đó giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Quy hoạch nhấn mạnh việc mở rộng các vùng động lực phát triển, hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy các hành lang kinh tế và định hình không gian phát triển đồng bộ cho giai đoạn dài hạn.
Từ ngày 1/7/2026, Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ chi trả cho khám sức khỏe định kỳ

Từ ngày 1/7/2026, Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ chi trả cho khám sức khỏe định kỳ

Thời sự
Từ ngày 1/7/2026, theo quy định của Luật Phòng bệnh, người dân sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả chi phí khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí theo lộ trình và khả năng cân đối của Quỹ.
Tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế

Thời sự
Quốc hội yêu cầu tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu đặt ra là từ năm 2027, tỷ trọng chi ngân sách cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước phải tăng hơn so với năm 2025.
Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I

Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I

Thời sự
Ngày 10/12, Đảng ủy Chính phủ tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình dự và chủ trì Hội nghị.
Thực hiện đột phá giáo dục giai đoạn 2026 - 2030

Thực hiện đột phá giáo dục giai đoạn 2026 - 2030

Thời sự
Sáng 10/12, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV, với 419/431 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 88,58%, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Sẵn sàng khai trương Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh

Sẵn sàng khai trương Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh

Thời sự
Ngày 9/12, tại buổi làm việc với Đoàn công tác của Chính phủ do Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình làm trưởng đoàn, lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh báo cáo, công tác trang bị cơ sở vật chất ban đầu cho Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đang gấp rút hoàn thành, đảm bảo kịp đưa vào hoạt động ngày 19/12/2025.
Xem thêm