FDI điện tử tăng mạnh về lượng, yếu về lan tỏa công nghệ
![]() |
| Giá trị xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 10 tháng của các doanh nghiệp FDI đạt gần 81,2 tỷ USD. Ảnh minh hoạ: HD |
Theo báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 của Bộ Tài chính, vốn FDI đăng ký cả năm 2025 ước đạt khoảng 39,5 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 26–27 tỷ USD, trong đó các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo tăng mạnh.
Những dự án mới như kế hoạch đầu tư 850 triệu USD của Amkor, 2 dự án trị giá 551 triệu USD của Foxconn tại Quảng Ninh, hay kế hoạch mở rộng của LuxShare-ICT tại Nghệ An… tiếp tục củng cố vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.
Số liệu từ Cục Thống kê cho biết, 10 tháng năm 2025, tổng vốn FDI vào Việt Nam tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt trên 31,5 tỷ USD, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 16,37 tỷ USD, chiếm 62,5% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm.
Về xuất khẩu, theo Cục Hải quan, giá trị xuất khẩu 10 tháng năm 2025 của nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt gần 87,3 tỷ USD, chiếm 22,3% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng các doanh nghiệp FDI thì giá trị xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 10 tháng đã đạt gần 81,2 tỷ USD, tức là chiếm tới 93% giá trị xuất khẩu của cả nước. Điều này cho thấy vai trò gần như tuyệt đối của khu vực vốn ngoại trong chuỗi sản xuất điện tử tại Việt Nam.
Dù vậy, những con số ấn tượng ấy lại đặt ra câu hỏi lớn về mức độ lan tỏa công nghệ và tác động nâng cấp năng lực sản xuất trong nước. Một nghiên cứu mới của nhóm tác giả thuộc Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam cho thấy khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế vẫn còn rất đáng kể.
Theo đó, trung bình, doanh nghiệp trong nước chỉ hoạt động ở mức 64% so với đường biên công nghệ do các doanh nghiệp FDI thiết lập – khoảng cách này không thu hẹp từ năm 2011 đến 2020.
![]() |
| Hiệu quả quản lý và tỷ lệ công nghệ trong ngành điện tử Việt Nam. Nguồn: nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam. |
TS. Nguyễn Châu Trinh – giảng viên Kinh tế, Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, sự hiện diện áp đảo của các doanh nghiệp FDI trong chuỗi giá trị có thể gia tăng cạnh tranh, đẩy lùi các doanh nghiệp trong nước hoặc kìm hãm họ trong các phân khúc có giá trị gia tăng thấp với ít cơ hội nâng cấp công nghệ.
Nhưng TS. Nguyễn Châu Trinh cũng lưu ý, một ngành mà các tập đoàn đa quốc gia nắm giữ toàn bộ khâu thiết kế và công nghệ chiến lược như điện tử, khả năng chia sẻ công nghệ thông qua quan hệ cung ứng là rất hạn chế nếu không có cơ chế liên doanh hoặc ràng buộc cụ thể.
Một số khác biệt trong mức độ lan tỏa cũng xuất phát từ nguồn gốc nhà đầu tư. Theo kết quả nghiên cứu, khối doanh nghiệp FDI đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản – hiện đang thống trị ngành điện tử Việt Nam – thường vận hành các chuỗi cung ứng khép kín, kéo theo các nhà cung cấp từ chính quốc và ít tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Ngược lại, các nhà đầu tư đến từ ASEAN và Trung Quốc có xu hướng linh hoạt hơn trong một số phân khúc, tạo ra những cơ hội nhất định để doanh nghiệp nội hưởng lợi, dù ở mức khiêm tốn.
Tác động FDI cũng khác nhau tùy theo vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Theo phân tích của các chuyên RMIT, FDI thượng nguồn – tức FDI đóng vai trò nhà cung cấp linh kiện kim loại – tạo điều kiện nâng cao năng suất cho doanh nghiệp Việt thông qua chất lượng đầu vào tốt hơn. Trong khi đó, FDI hạ nguồn – các doanh nghiệp FDI đóng vai trò khách hàng trong ngành công nghiệp nhựa – lại khiến doanh nghiệp trong nước phải nâng cấp mạnh về công nghệ, nhưng đồng thời làm yếu đi hiệu quả quản lý do áp lực cạnh tranh quá lớn.
Dù vậy, theo nhóm nghiên cứu, mức tăng năng suất tổng hợp của doanh nghiệp điện tử trong nước chủ yếu đến từ nỗ lực tự cải thiện nội bộ như đổi mới sáng tạo hay nâng cao chất lượng nhân lực, hơn là từ tác động lan tỏa từ khu vực FDI.
Cũng theo báo cáo của Bộ Tài chính, mặc dù dòng vốn FDI tiếp tục tăng, Việt Nam vẫn chậm thu hút được các nhà đầu tư thực sự chiến lược với khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và hình thành hệ sinh thái công nghệ cao. Ngoài ra, mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp nội chưa đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng vật tư – nguyên liệu; năng lực quản trị của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và các dự án gia công đơn giản vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Những hạn chế này khiến việc xây dựng chiến lược thu hút FDI có chọn lọc trở thành yêu cầu cấp thiết. Báo cáo của Bộ Tài chính nêu rõ định hướng tập trung ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, đảm bảo tiêu chí xuất xứ, gắn với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đồng thời, cơ chế ưu đãi đặc thù cho ngành bán dẫn, hydrogen và pin xe điện đang được nghiên cứu nhằm đưa Việt Nam tiến xa hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ góc độ nghiên cứu, nhóm nghiên cứu của RMIT cảnh báo, nếu không có các biện pháp hỗ trợ cụ thể, Việt Nam có nguy cơ rơi vào cảnh “càng nhiều lại càng thiệt”, khi sự hiện diện của FDI tỷ lệ nghịch với việc nâng cấp năng lực cho doanh nghiệp trong nước.
Vì thế, nhóm nghiên cứu đề nghị, các cơ quan quản lý Việt Nam cần thúc đẩy liên kết sâu hơn giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, thông qua các chính sách khuyến khích sử dụng nguyên vật liệu và nhà cung cấp trong nước. Đồng thời khuyến khích các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) và dự án phát triển chung, đặc biệt là với các đối tác trong khối ASEAN và Trung Quốc, những thị trường có xu hướng hợp tác trong chuỗi cung ứng bao trùm hơn.
Ngoài ra cần tăng cường năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước, giúp doanh nghiệp Việt có thể cạnh tranh ở phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn. Cũng như ưu tiên các chính sách học hỏi và lan tỏa tri thức, thay vì chỉ tập trung thu hút FDI.
Tin tức khác
Tăng cường phân quyền cho doanh nghiệp nhà nước trong quản lý cán bộ
Hà Nội hỗ trợ doanh nghiệp phát triển ứng dụng, dịch vụ số
Chuẩn hóa cơ chế tài chính cho dự án PPP và hợp đồng BT
Vingroup đầu tư 3 tỷ USD mở rộng hệ sinh thái tại Ấn Độ
63% doanh nghiệp tạo tác động có lãi, Việt Nam là điểm đến hàng đầu của nhà đầu tư quốc tế
Giá xăng dầu dự báo sẽ giảm trong ngày mai (11/12)
Mở rộng thị trường - chiến lược thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam
MultiMedia
VIDEO: Chuyển nhượng vàng miếng sẽ chịu thuế 0,1% trên giá trị từng lần giao dịch
VIDEO: Thuế "4.0": Etax mobile tích hợp chatbot AI biến điện thoại thành trợ lý thuế 24/7
VIDEO: 8 loại dữ liệu "bắt tay nhau" giúp tăng tốc xử lý thủ tục hành chính
VIDEO: Bổ sung 41 cửa khẩu quốc tế cho phép xuất nhập cảnh bằng thị thực điện tử
EMAGAZINE: Kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng dài hạn
TP. Hồ Chí Minh thống nhất tăng thêm thu nhập cho 2 nhóm công chức, viên chức
Doanh nghiệp nhà nước được đề xuất vay ODA, vay ưu đãi
Chốt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030, mở rộng các vùng động lực tăng trưởng
Từ ngày 1/7/2026, Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ chi trả cho khám sức khỏe định kỳ
Tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế
Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I
Thực hiện đột phá giáo dục giai đoạn 2026 - 2030
Sẵn sàng khai trương Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển
Tài sản số Việt Nam: Từ "vùng xám" tới dòng vốn mới cho nền kinh tế
Doanh nghiệp nhà nước được đề xuất vay ODA, vay ưu đãi
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật Giá: Giao cấp xã thực hiện bình ổn giá
Bãi bỏ dịch vụ phụ trợ bảo hiểm từ ngày 1/7/2026
Bài 1: Thông qua sửa Luật Thống kê: Xây dựng hệ thống thông tin thông suốt từ trung ương đến tận cấp xã
Kho bạc Nhà nước khu vực III nỗ lực đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công













